CHƯƠNG 1 1. Nêu khái niệm, vai trò của đất đai? 2. Nêu định nghĩa, phân tích và lấy ví dụ về đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh của Luật Đất đai? 3. Nguyên tắc là gì? Vì sao Luật Đất đai cũng như các ngành luật khác đều xác lập một số nguyên tắc nhất định? 4.
Nêu các nguyên tắc cơ bản của Luật Đất đai? 5. Cho biết như thế nào là sử dụng đất hợp lý, hiệu quả? 6. Nêu khái niệm và các loại nguồn của Luật Đất đai? 20 Chương 2 QUAN HỆ PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI 1. KHÁI NIỆM QUAN HỆ PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI Trong cộng đồng xã hội, con người có nhiều mối quan hệ khác nhau; nói như các nhà triết học thì con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội (quan hệ kinh tế, quan hệ chính trị, quan hệ dân sự…) quan hệ đất đai là một trong những quan hệ thuộc lĩnh vực kinh tế.
Định nghĩa quan hệ pháp luật đất đai Quan hệ pháp luật đất đai là những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai được các quy phạm pháp luật đất đai điều chỉnh. Đặc điểm của quan hệ pháp luật đất đai - Quan hệ pháp luật đất đai thể hiện đậm nét tính giai cấp. - Quan hệ pháp luật đất đai là quan hệ tài sản nhưng không phải là tài sản theo nguyên nghĩa của nó. - Quan hệ pháp luật đất đai vừa mang yếu tố kinh tế, vừa mang yếu tố hành chính, môi trường, xã hội.
Phân loại quan hệ pháp luật đất đai Quan hệ pháp luật đất đai ở nước ta có thể chia làm hai nhóm: nhóm quan hệ sở hữu và nhóm quan hệ sử dụng. - Nhóm quan hệ sở hữu: là nhóm quan hệ phát sinh trong lĩnh vực sở hữu đất đai, hay là trong quá trình quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm những quan hệ phát sinh giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với nhau. Các quan hệ đất đai thuộc nhóm này rất đa dạng và phức tạp. Nhà nước không chỉ đơn thuần là thực hiện vai trò của một chủ sỡ hữu mà bằng chính pháp luật của mình, bằng các chế độ, thể lệ về quản lý và sử dụng đất, mà Nhà nước thực hiện một cách cụ thể các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đất đai.
21 - Nhóm quan hệ sử dụng: Là những quan hệ phát sinh trong lĩnh vực sử dụng đất giữa các chủ thể sử dụng đất với nhau. Trong quá trình này các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền không tham gia trực tiếp nhưng thực hiện quyền giám sát. Là chủ sở hữu nhưng Nhà nước chỉ trực tiếp sử dụng một phần nhỏ, còn lại giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng, cho nên nhà nước sử dụng, cho nên nhà nước phải quán lý chặt chẽ, để đảm bảo quyền lợi của chử sở hữu đòng thời đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI Cũng như bất cứ một loại quan hệ pháp luật nào khác, quan hệ pháp luật đất đai cũng được cấu thành bởi ba bộ phận: Chủ thể, khách thể, nội dung.
Chủ thể của quan hệ luật đất đai Chủ thể của quan hệ luật đất đai là các bên tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai bao gồm Nhà nước, các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong nước, tổ chức và cá nhân nước ngoài, cơ sở tôn giáo và cộng đồng dân cư. Phân loại chủ thể gồm: - Chủ thể sở hữu (Toàn dân là chủ thể sở hữu mà người đại diện là Nhà nước). Nhà nước là chủ thể đặc biệt của quan hệ pháp luật đất đai. Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với toàn bộ đất đai.
Nhà nước bao giờ cũng có tư cách chủ thể, nghĩa là nhà nước thường xuyên tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai và luôn luôn có tư cách chủ thể. - Chủ thể quản lý: Bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung, các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn tham gia quản lý đất đai. - Chủ thể sử dụng: Ngoài nhà nước ra còn có các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân cư… đều là chủ thể của Luật Đất đai và được gọi là người sử dụng đất khi mà họ phải có các điều kiện nhất định. Đó là: Thứ nhất, có năng lực pháp luật đất đai - Năng lực pháp luật đất đai là khả năng của các chủ thể được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ pháp luật nhất định theo quy định của Nhà nước khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai.
22 - Đối với tổ chức, thì năng lực pháp luật đất đai xuất hiện cùng với quyết định thành lập tổ chức đó. - Năng lực pháp luật đất đai của tổ chức ngoài việc họ có quyền sử dụng đất trực tiếp thì họ còn được phép gián tiếp giao thêm một số quyền và nghĩa vụ như giao một phần đất cho người thứ hai sử dụng. - Đối với hộ gia đình, thì năng lực pháp luật đất đai xuất hiện khi tạo lập hộ gia đình riêng. - Đối với cá nhân thì năng lực pháp luật đất đai xuất hiện từ khi cá nhân đó sinh ra đến lúc chết.
Thứ hai, có năng lực hành vi đất đai - Năng lực hành vi đất đai là bằng hành vi cụ thể để hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ pháp lí nhất đinh. - Đối với tổ chức năng lực hành vi đất đai xuất hiện một lúc với năng lực pháp luật. - Đối với cá nhân, năng lực hành vi đất đai đầy đủ khi cá nhân đủ 18 tuổi. - Đối với hộ gia đình: các thành viên trong hộ gia đình phải có chung hộ khẩu, có tài sản chung, hoạt động kinh tế chung.
Thứ 3, có sự tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật đất đai - Các chủ thể tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật đất đai bằng các quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép sử dụng đất của các cơ quan có thẩm quyền. - Đây là điều kiện không thể thiếu, bởi không phải bất cứ chủ thể nào cũng đều thành chủ thể của quan hệ pháp luật đất đai và họ phải được Nhà nước cho phép sử dụng đất. Các quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là cơ sở pháp lý cho việc thiết lập mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất. - Tuy nhiên, trong thực tế quan hệ pháp luật đất đai rất đa dạng, phức tạp gồm nhiều chủ thể khác nhau với nhiều loại giấy tờ không thống nhất, được cấp ở nhiều thời kỳ lịch sử, vì vậy chúng ta có thể phận loại các chủ thể như sau: 23 + Chủ thể có giấy tờ hợp pháp: có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993 và Luật Đất đai năm 2003 + Chủ thể có giấy tờ hợp lệ: i) Chủ thể chưa có giấy tờ hợp pháp nhưng có giấy tờ hợp lệ trên cơ sở đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Giấy tờ hợp lệ được quy định tại khoản 1, 2 điều 50 Luật Đất đai năm 2003. ii) Những giấy tờ về quyền sử dụng đất đai trước ngày 15/10/1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, chính phủ lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; iii) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng kí ruộng đất, sổ địa chính; iv) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất; v) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15/10/1993 nay được ủy bạn nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15/10/1993; vi) Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật; vii) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người có quyền sử dụng đất; viii) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ nêu trên mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan nhưng đến trước ngày luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp. + Chủ thể được xem xét công nhận quyền sử dụng đất: Thực tế đối tượng này không có giấy tờ gì hoặc giấy tờ không hợp pháp, hợp lệ 24 nhưng được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận về thời điểm sử dụng đất, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất không có tranh chấp, khiếu nại về đât đai và làm thủ tục để Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Khách thể quan hệ pháp luật đất đai Khách thể quan hệ pháp luật đất đai là toàn bộ vốn đất quốc gia, là vùng đất, khoảng đất cụ thể mà qua đó Nhà nước đã thiết lập các chế độ pháp lí nhất định.
Trong quá trình quản lý sử dụng đất các chủ thể đều hướng tới một lợi ích chung là quản lý đất đai có hiệu quả theo quy hoạch chung, có đất để sản xuất nhằm đảm bảo đời sống và phát triển. Nhu cầu sử dụng đất đai của con người là rất đa dạng, nhưng đất đai không phải là nguồn tài nguyên vô tận mà là một vốn đất được xác định, có kế hoạch sử dụng cụ thể. Vốn đất này được phân phối theo kế hoạch thành các vùng kinh tế, kỹ thuật, các khu dân cư, các trung tâm công nghiệp. Trên cơ sở sự phân loại đất được quy định tại Điều 13 Luật Đất đai 2003, có thể thiết lập chế độ pháp lý các loại đất khác nhau.
Đó là: - Chế độ pháp lí đất nông nghiệp. - Chế độ pháp lí đất phi nông nghiệp. - Chế độ pháp lí đất chưa sử dụng. Nội dung của quan hệ pháp luật đất đai Nội dung của quan hệ pháp luật đất đai là những quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai.