CHƯƠNG I Trước đây, các loài sinh vật xâm hại hầu như ít được chú ý tại Việt Nam. Tuy nhiên, từ nửa đầu những năm 1990, khi ốc bươu vàng bùng phát từ đồng bằng song Cửu Long đến đồng bằng Bắc Bộ cùng hàng loạt thiệt hại cho loài sinh vật này gây ra trong những năm trở lại đây thì vấn đề kiểm soát loài NLXH đã được nhìn nhận nghiêm túc và có sự quan tâm nhiều hơn. Với đặc tính sinh trưởng nhanh, khả năng sinh sản cao cho phép một vài cá thể ban đầu có thể nhanh chóng tạo lập được quần thể với mật độ cao và định cư nhanh chóng tại nơi mới, chúng dễ dàng cạnh tranh, lấn át các loài bản địa tại môi trường chúng xâm nhập. Hậu quả mà loài sinh vật ngoại lai gây ra không chỉ liên quan đến môi trường chúng xâm nhập ( suy giảm của loài bản địa gây mất cân bằng sinh thái) mà chúng còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây tổn thất lớn về kinh tế.
Do vậy, kiểm soát loài NLXH cần được đặt ra nhằm ngăn ngừa và giảm nhẹ tác động của loài NLXH đến hệ sinh thái, các sinh cảnh và loài sinh vật khác. Hệ thống văn bản pháp luật kiểm soát loài NLXH được coi là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo tồn và phát triển ĐDSH, giữ gìn hệ sinh thái, bảo vệ sức khỏe con người, đồng thời thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế quốc gia. Về cơ bản những quy định pháp luật ban hành vê kiểm soát loài NLXH đã bước đầu giải quyết được các mối đe dọa của chúng với ĐDSH, cuộc sống con người cũng như nâng cao sự hiểu biết của người dân về loài NLXH nói chung và kiểm soát loài NLXH nói riêng. Những quy định trên vừa đảm bảo được quy định của các Công ước quốc tế do Việt Nam kí kết, vừa phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa của nước ta.
Việc kiểm soát loài NLXH không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng. Trang 15 CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT LOÀI NGOẠI LAI XÂM HẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI VIỆT NAM Hiện nay, Luật ĐDSH năm 2008 là văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất và đề cập trực tiếp đến nội dung kiểm soát loài NLXH. Bên cạnh đó, vấn để kiểm soát loài NLXH tại Việt Nam hiện nay còn đươc quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác như : Luật Thủy sản (năm 2003), Luật Bảo vệ và phát triển rừng( năm 2004),Pháp lệnh giống cây trồng 2004,…Những quy định về kiểm soát loài NLXH trong Luật ĐDSH năm 2008 mang tính định hướng chung. Luật ĐDSH năm 2008 dành ra hẳn một mục tại chương IV quy định về “Bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật” để quy định về kiểm soát loài NLXH.
Cụ thể, mục 3 chương IV “Kiểm soát loài NLXH” bao gồm 05 điều( từ điều 50 đến điều 54). Thông qua những quy đinh đó ta có thể nhìn nhận về thực trạng pháp luật về kiểm soát loài NLXH và thực tiễn thi hành tại Việt Nam như sau: 1. Các quy định pháp luật về điều tra và lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại 1.1 Thực trạng các quy định pháp luật về điều tra và lập Danh mục loài ngoại lai xâm hại Theo khoản 2, 3 điều 50 Luật ĐDSH năm 2008 quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong vấn đề điều tra và lập Danh mục loài NLXH. Bên cạnh đó điều 3 Thông tư liên tịch số 27/2013/ TTLT-BTNMT-BNNPTNT quy định tiêu chí xác định loài NLXH và ban hành danh mục loài NLXH.
Trách nhiệm điều tra để lập Danh mục loài NLXH thuộc về UBND cấp tỉnh và việc điều tra được thực hiện ngay trên địa bàn. Pháp luật giao cho các cơ quan hành pháp tại địa phương là hoàn toàn phù hợp. Việc nắm rõ điều kiện, tình hình tại địa phương mình sẽ giúp cho UBND các cấp đưa ra những phương thức điều tra phù hợp với tính chất địa phương mình. Bên cạnh đó, các cán bộ quản lý tại địa phương có trách nhiệm tham gia điều tra sẽ chủ động nắm rõ đặc điểm loài NLXH tại địa phương mình cũng như công tác kiểm soát chúng.
Việc phân chia điều tra lập danh mục loài NLXH tới các địa phương cũng phù hợp với yêu cầu phát hiện sớm, chủ Trang 16 động điều tra để phản ứng nhanh với các loài NLXH, giúp ngăn ngừa sự tạo lập quần thể và lan truyền loài. Hoạt động này cũng được Luật ĐDSH năm 2008 quy định thực hiện thống nhất, xuyên suốt từ cấp địa phương tới cấp trung ương. Sau khi UBND cấp tỉnh tổ chức điều tra để lập Danh mục loài NLXH trên địa bàn sẽ có nhiệm vụ báo cáo lên BTNMT, Bộ NNPTNT. Hai cơ quan này cùng bộ, cơ quan ngang bộ khác, UBNDcấp tỉnh tổ chức điều tra, xác định loài NLXH, thẩm định và ban hành Danh mục loài NLXH.Quá trình trên sẽ do BTNMT chủ trì thực hiện.
Quy định này sự phối hợp thực hiện từ địa phương đến trung ương sẽ hạn chế tối đa những sai sót xảy ra. Đồng thời việc tổng hợp, thẩm định danh sách được thực hiện bởi các cơ quan chuyên môn đảm bảo Danh mục loài NLXH khi ban hành sẽ đầy đủ và chi tiết theo đúng tiêu chí xác định loài NLXH. Danh mục loài NLXH nên được cập nhập và sửa đổi thường xuyên để phù hợp với thực tế,giúp cho hoạt động giám sát loài NLXH kịp thời và chủ động. Theo quy định pháp luật công tác tổ chức điều tra, xác định loài NLXH, loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại được giao cho BTNMT chủ trì, phối hợp với Bộ NNPTNT, Bộ, cơ quan ngang bộ khác, UBND tỉnh được thực hiện hàng năm.
Đây là hoạt đông rất quan trọng nhằm phát hiện sớm giúp ngăn ngừa hậu quả loài NLXH. Tuy nhiên các quy định trên về điều tra và lập Danh mục loài NLXH chỉ mang tính định hướng, giúp cơ quan,tổ chức, cá nhận nhận biết được loài NLXH trên thực tế cũng như trách nhiệm của mình trong hoạt động này chứ chưa đi vào cụ thể. Vì vậy, xét thấy quy định trên vẫn còn tồn tại những hạn chế sau : Tiêu chí xác định loài NLXH, loài ngại lai có nguy cơ xâm hại còn chung chung, chưa cụ thể dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng không thống nhất Hiện nay, Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT có quy định về tiêu chí để xác định loài NLXH và loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại. Theo điều 1 của thông tư này loài NLXH đáp ứng một trong các tiêu chí sau: đã tự thiết lập quần thể trong tự nhiên, đang lấn chiếm nơi sinh sống, cạnh tranh thức ăn và gây hại đối với các sinh vật bản địa, có khả năng phát tán mạnh; có xu hướng hoặc đang gây mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện ở Việt Nam hoặc qua khảo nghiệm, thử nghiệm thể hiện có xâm hại.
Còn đối với loài ngoại lai có nguy cơ xâm Trang 17 hại gồm 2 loại: a) Loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại đã xuất hiện ở Việt Nam đáp ứng một trong các tiêu chí sau: chưa tự thiết lập được quần thể trong tự nhiên, có xu hướng lấn chiếm nơi sinh sống, cạnh tranh thức ăn, gây hại đối với loài bản địa; hoặc qua khảo nghiệm, thử nghiệm, điều tra, đánh giá thấy biểu hiện nguy cơ xâm hại; b) Loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại chưa xuất hiện ở Việt Nam đáp ứng các tiêu chí sau: loài chưa du nhập vào Việt Nam; đã được ghi nhận xâm hại từ hai quốc gia trở lên có điều kiện sinh thái tương tự với Việt Nam. Các tiêu chỉ trên đều mang tính chất định hướng nên tiêu chí xác định không rõ ràng, cụ thể. Từ ngữ sử dụng chung chung gây khó khăn cho quá trình xác định loài NLXH và loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại. Quy định trên cần giải thích rõ hơn các thuật ngữ như: thế nào là “đã tự thiết lập quần thể trong tự nhiên” hay “chưa tự thiết lập được quần thể trong tự nhiên”; “xu hướng” gây mất cân bằng sinh thái được thể hiện như thế nào; “quốc gia có điều kiện sinh thái tương tự với Việt Nam” được đánh giá dựa vào những tiêu chuẩn nào? Việc quy định tiêu chí loài NLXH và loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại dường như chỉ mang tính chất liệt kê các tiêu chí cần có nhưng chưa đi vào giải thích cụ thể.
Điều này rất dễ đến tình trạng hiểu sai,hiểu không đúng và áp dụng không thống nhất tại các địa phương. Bên cạnh đó, theo quy đinh trên việc xác định loài NLXH và loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại còn dựa trên tiêu chí “qua khảo nghiệm, thử nghiệm”. Nhưng việc khảo nghiệm,thử nghiệm không quy định những cơ quan,tổ chức nào có trách nhiệm thực hiện; phương thức thực hiện có yêu cầu gì; thời gian thực nhiệm tối đa bao lâu, tiêu chí xác định thế nào là xâm hại và thế nào là có nguy cơ xâm hại cũng không được đề cập…Điều này dẫn đến các bộ phận thực hiện dễ rơi vào tình trạng mơ hồ, tùy tiện áp dụng các biện pháp không phù hợp vì tính quá chung chung, hình thức của quy định. Do cách hiểu chưa thấu đáo và thống nhất nên hiện nay tình hình cho thấy Danh mục loài NLXH và loài ngoại lai có nguy cơ xâm hại (Ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 27/2013/TTLT-BTNMT-BNNPTNT ngày 26 tháng 9 năm 2013 của Bộ trưởng BTNMT và Bộ trưởng Bộ NNPTNT) hầu hết dựa vào hậu quả mà các loài NLXH đã gây ra trên thực tế để đưa vào Danh mục chứ chưa dựa vào tiêu chí do Trang 18 pháp luật quy định.
Điều này cũng dễ hiểu vì các cơ quan địa phương chưa có căn cứ cụ thể để dựa vào tiến hành nên danh mục mang tính định lượng là chủ yếu. Thiếu quy định về phân tích nguy cơ xâm hại, phát hiện sớm, phản ứng nhanh đổi với loài NLXH Một loài sinh vật ngoại lai khi du nhập đền một nơi mới cần có thời gian để tạo lập quần thể nên hoạt động điều tra phát hiện sự hiện diện của chúng để áp dụng các biện pháp thích hợp sẽ là cơ hội lớn để diệt trừ tận gốc trước khi sinh vật ngoại lai đó lan rộng gây ảnh hưởng tiêu cực. Tuy nhiên, hiện nay, chưa có văn bản pháp luật nào nước ta hướng dẫn chi tiết, cụ thể quy trình thực hiện,phương thức tiến hành điều tra.