phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương, 15 tiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ CHO NGƢỜI NGHÈO 1. Khái niệm về trợ giúp pháp lý và trợ giúp pháp lý cho ngƣời nghèo 1. Khái niệm về trợ giúp pháp lý Thuật ngữ “Trợ giúp pháp lý” xuất phát từ tiếng Anh là Legal aid.
Theo từ điển Anh – Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1997 thì “Legal aid” được dịch là “Trợ cấp pháp lý”. Ngoài ra, trong một số tài liệu khác dịch “Legal aid” là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hoặc “hỗ trợ tư pháp”… Có rất nhiều cách dịch khác nhau về thuật ngữ này nhưng xuất phát từ bản chất và hình thức hoạt động “legal aid” trên thế giới và thực tiễn hoạt động này ở Việt Nam trong thời gian qua, thuật ngữ “Legal aid” được dịch là “Trợ giúp pháp lý” đang được sử dụng chính thức trong các văn bản và sách báo ở Việt Nam hiện nay. Dưới góc độ ngôn ngữ học: Từ thế kỷ 20, "Trợ giúp pháp lý" - "Legal aid" bắt đầu được sử dụng phổ biến, "đó là việc cung cấp cho những người không có đủ khả năng có được đại diện pháp lý khi tiếp cận với hệ thống tư pháp. Nó được coi là trụ cột của tiếp nhận công lý để bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, có quyền được tư vấn và quyền được xét xử một cách công bằng"[2].
Khái niệm trợ giúp pháp lý bao gồm việc giúp đỡ toàn bộ hoặc một phần cho những người không có điều kiện kinh tế chi trả cho các dịch vụ liên quan đến pháp luật và kinh phí để chi trả cho sự hỗ trợ này được lấy được ngân sách Nhà nước [3, tr8]. Dưới góc độ luật thực định, pháp luật về trợ giúp pháp lý của một số nước định nghĩa về trợ giúp pháp lý không thống nhất, như là “sự trợ giúp trong việc sử dụng bất kỳ biện pháp nào mà một người có thể sử dụng, gồm cả các biện pháp đối với thủ tục tố tụng, liên quan đến việc áp dụng pháp 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luật” (Điều 2 Luật về trợ giúp pháp lý năm 1988 của Anh); “là hoạt động có mục đích tạo điều kiện cho người gặp khó khăn về tài chính có cơ hội tiếp cận với dịch vụ pháp lý” (Québec, Canada); “là tạo sự công bằng khi tiếp cận pháp luật của các cá nhân không thể thuê mướn luật sư, tạo cơ hội cho những người có thu nhập thấp (Điều 1001, Luật về công ty dịch vụ pháp lý của Mỹ sửa đổi năm 1977), “là việc giúp đỡ một phần hoặc toàn bộ tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi phí về tư vấn pháp luật, đại diện hoặc bào chữa trước Tòa án” (Đức), “là việc đại diện cho khách hàng trước Tòa án nhằm giúp đỡ những người không có khả năng chi trả cho các dịch vụ pháp lý” (Điều 2 Luật đại diện và tư vấn pháp lý năm 1995 của Singapore), “là việc tư vấn và đưa ra ý kiến; soạn thảo các hợp đồng; cung cấp các dịch vụ pháp lý phục vụ hoạt động tranh tụng cho những người nghèo và người bị đối xử bất công” (Luật về hành nghề luật B.2528 năm 1985 của Thái Lan)…[3, tr9,10]. Nhìn chung, nội hàm khái niệm trợ giúp pháp lý trong pháp luật thực định của các nước đều thể hiện tính kinh tế, nhân đạo và pháp lý. Tính kinh tế, nhân đạo thể hiện ở chỗ trợ giúp pháp lý là sự giúp đỡ về tài chính cho những người không có khả năng thanh toán cho các chi phí khi tiếp cận với dịch vụ pháp lý.
Tính pháp lý thể hiện ở chỗ giúp đỡ đối tượng giải quyết các vụ, việc có liên quan đến pháp luật. Phạm vi rộng, hẹp có khác nhau nhưng đều có nội hàm là để giúp đỡ pháp luật cho những nhóm người cụ thể và nhóm này không phải trả thù lao cho dịch vụ được hưởng. Dưới góc độ khoa học ở Việt Nam, trợ giúp pháp lý được hiểu “là sự cung cấp dịch vụ pháp lý của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, đối tượng chính sách và đồng bào dân tộc thiểu số qua các hình thức tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội” (nghĩa rộng) hoặc “là sự giúp đỡ của các tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước cho người nghèo, đối tượng chính sách 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với các dịch vụ pháp lý (tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa), nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội” (nghĩa hẹp) [39, tr22]. Hướng tiếp cận này được tiếp tục phát triển và hoàn thiện, theo đó, trợ giúp pháp lý là việc thực hiện các dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội cho người nghèo, người được hưởng chính sách ưu đãi và một số đối tượng khác do pháp luật quy định thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, đại diện, bào chữa, kiến nghị giải quyết vụ việc và tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân bình đẳng trong tiếp cận pháp luật, góp phần thực hiện công bằng xã hội [40, tr21].
Ngoài ra, có quan điểm cho rằng trợ giúp pháp lý là việc Nhà nước, các tổ chức xã hội và các cá nhân thực hiện việc cung ứng dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc có thu phí nhưng thấp hơn giá trị của dịch vụ bao gồm đại diện, bào chữa, tư vấn pháp luật và các loại hình giúp đỡ pháp luật khác cho những đối tượng nhất định. Hay có quan điểm cho rằng trợ giúp pháp lý là việc cung cấp các dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc có giảm chi phí cho những đối tượng nhất định hoặc trong những trường hợp cần thiết nhằm bù đắp, bảo vệ quyền lợi cho người thụ hưởng, giúp họ có điều kiện tiếp cận và sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp được Hiến pháp và pháp luật quy định [41, tr77-83]. Theo tác giả của quan niệm này, trợ giúp pháp lý là các dịch vụ pháp lý miễn phí hoặc có giảm phí và các hoạt động giúp đỡ pháp luật khác do Nhà nước và xã hội thực hiện cho những người do điều kiện tài chính, pháp lý, hoàn cảnh xã hội hoặc năng lực cá nhân không thể tự mình hoặc nhân danh mình thực hiện, nhằm bảo đảm cho họ công bằng trong tiếp cận và sử dụng pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân, đồng thời góp phần bảo vệ lợi ích của cộng đồng và xã hội [38]. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Qua các quan điểm trên đây, có thể thấy, trợ giúp pháp lý được thể hiện qua các khía cạnh sau: Khía cạnh nghề nghiệp, trợ giúp pháp lý là dịch vụ pháp lý thuộc phạm trù nghề luật.
Chất lượng trợ giúp pháp lý phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nhân lực có chất lượng nên đòi hỏi người thực hiện trợ giúp pháp lý có trình độ pháp lý, kỹ năng hành nghề cao, chuyên môn hóa, có đạo đức và uy tín nghề nghiệp. Người thực hiện trợ giúp pháp lý thường là luật sư (Nhà nước hoặc hành nghề tự do), trợ giúp viên pháp lý, chuyên gia pháp lý, người hành nghề luật bán chuyên nghiệp. Tính chất nghề luật thể hiện ở chỗ, trợ giúp pháp lý lấy pháp luật làm công cụ và có đối tượng là các vụ việc pháp luật. Hình thức trợ giúp pháp lý là tư vấn, đại diện, bào chữa, bảo vệ trong phạm vi và theo trình tự luật định.
Khía cạnh chính trị, trợ giúp pháp lý là phương thức tổ chức thực hiện đường lối của Đảng đã được thể chế hóa trong pháp luật, thông qua vận dụng pháp luật vào từng trường hợp cụ thể. Qua đó, đưa chủ trương, đường lối của Đảng vào cuốc sống, khắc phục sự bất cập trong hoạt động công vụ, tăng cường niềm tin của dân vào pháp luật. Nó còn là cơ chế để phát huy vai trò, tính đúng đắn của đường lối, chính sách đã được luật hóa. Công dân với tư cách là chủ thể của quyền lực nên họ phải được bảo đảm về mặt pháp lý để họ được hưởng công bằng trong phán quyết tranh chấp, khiếu kiện hoặc xét xử.
Qua trợ giúp pháp lý, Nhà nước điều tiết, giải quyết các mối quan hệ xã hội đang có sự bất ổn, nhằm khắc phục bất cập của công vụ hoặc tình trạng quẫn bách phải tự “xử lý”, phải “chạy chọt” tốn kém. Trợ giúp pháp lý chính là công cụ góp phần khắc phục sự bất bình đẳng do phân tầng giầu nghèo, làm giảm bớt mâu thuẫn giai cấp, từ đó thiết lập sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chế độ và định hướng các quan hệ xã hội theo ý chí của Nhà nước. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khía cạnh kinh tế, trợ giúp pháp lý là việc Nhà nước và xã hội tạo cơ chế để một người được nhận tư vấn pháp luật, được đại diện bảo vệ quyền lợi hoặc được bào chữa miễn phí. Nhà nước có thể cấp kinh phí cho tổ chức nghề nghiệp (Văn phòng luật sư, Công ty luật…); thuê luật sư theo vụ việc; lập ra các tổ chức hưởng lương hoặc trực tiếp cấp tài chính cho người dân để họ chi trả theo vụ việc hoặc tạo lập các thiết chế…Sự cung ứng tài chính của Nhà nước thực tế có giá trị xã hội và lợi ích kinh tế lớn khi góp phần giữ ổn định trật tự xã hội, tránh được chi phí giải quyết khiếu kiện không cần thiết để người dân yên tâm lao động sản xuất tạo ra nhiều của cải, vật chất cho xã hội.