CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁI CHẾT NHÂN ĐẠO, PHÁP LUẬT VỀ CÁI CHẾT NHÂN ĐẠO 1.1 Khái niệm cái chết nhân đạo và quyền an tử 1.1 An tử và cái chết nhân đạo Về lịch sử hình thành và phát triển, từ thời cổ đại (thế kỷ V đến thế kỷ I TCN), những người La Mã và Hy Lạp đã có xu hướng ủng hộ an tử và không tuân theo “lời thề Hippocrates” một cách trung thành. Các bác sĩ có thể thực hiện việc giết người vì mục đích nhân đạo (mercy killing), cả tự nguyện và không chủ ý. Tuy nhiên, khoảng thời gian sau đó cho đến gần cuối thế kỷ XIX, an tử bị phản đối bởi quan điểm của các tôn giáo lớn (Đạo Thiên chúa, Đạo Do Thái, Đạo Phật) và bị pháp luật ở nhiều quốc gia cấm (đặc biệt là các quốc gia theo thông luật). Sang thế kỷ XX, với sự phát triển của ngành y khoa, an tử đã có được những bước tiến lớn.
Về mặt pháp lý, năm 1976, California trở thành bang đầu tiên của Mỹ thông qua luật cho phép người bị bệnh nan y quyền quyết định hủy bỏ các điều trị y tế duy trì sự sống khi cái chết được tin rằng sắp xảy ra. Tính đến năm 1977, đã có 8 bang của Mỹ gồm California, New Mexico, Arkansas, Nevada, Idaho, Oregon, North Carolina, và Texas đã thông qua các điều luật về quyền an tử. Bước sang đầu thế kỷ XXI, năm 2001, Hà Lan trở thành quốc gia đầu tiên hợp pháp hóa an tử; tiếp sau đó là Bỉ (năm 2002), Luxembourg (năm 2008); và ba bang của Mỹ gồm Washington (năm 2008), Montana (năm 2008), Vermont (năm 2013). Tháng 3/2014, Bỉ đã hợp pháp hóa an tử đối với trẻ em bị bệnh nan y và không thể cứu chữa.
9 Tháng 2/2015, Tòa án Tối cao Canada đã bãi bỏ lệnh cấm tự sát có trợ giúp của bác sĩ. Tháng 4/2015, Tòa án Nam Phi đã cho phép tự sát có trợ giúp đối với những người bị bệnh nan y.1 Cái chết nhân đạo hay còn gọi là an tử (trong tiếng Trung), euthanatos (trong tiếng Hy Lạp) đề cập đến việc thực hành chấm dứt sinh mạng của một con người với mục đích làm giảm thời gian chịu đau đớn và đau khổ về mặt thể lý cho người bệnh. Ủy ban đặc biệt của Thượng nghị viện Anh về Đạo đức y học (The British House of Lords Select Committee on Medical Ethics) định nghĩa về an tử là “một sự can thiệp cố ý được thực hiện với ý định rõ ràng về sự kết thúc một cuộc sống, để xoa dịu sự đau đớn khó chữa”. 2 Từ định nghĩa trên, có thể xác định bốn yếu tố để định nghĩa an tử đó là: i) tính cố ý của hành động chấm dứt sự sống (hay hành động có chủ ý); ii) đối tượng là những người không còn khả năng cứu chữa; iii) cách thức thực hiện ít hoặc không gây đau đớn; iv) vì lợi ích của người được an tử (mục đích nhân đạo).
Dựa trên tính chất tự nguyện, an tử được chia thành an tử tự nguyện (voluntary euthanasia), an tử phi tự nguyện (non-voluntary euthanasia) và an tử trái nguyện vọng (involuntary euthanasia). 3 Trong đó, an tử tự nguyện là việc bệnh nhân đưa ra quyết định chấm dứt sự sống trong điều kiện tỉnh táo và nhờ đến sự hỗ trợ của bác sĩ. An tử phi tự nguyện là trường hợp bệnh nhân không có khả năng bày tỏ sự chấp thuận của họ vì lý do hôn mê, tổn thương não. và một người khác thay mặt người bệnh quyết định (với điều kiện tiên quyết là người bệnh này trước đó đã thể hiện mong muốn kết thúc sự sống nếu lâm vào tình trạng này).
An tử trái nguyện vọng hay còn gọi là an tử ép buộc là khi người bệnh hoàn toàn từ chối hoặc không hề bày tỏ ý muốn được giải thoát dưới bất kỳ hình thức nào nhưng việc này vẫn được thực hiện, đi ngược lại ý chí của họ. An tử trái nguyện vọng trong mọi trường hợp đều là hành vi giết người trái pháp luật. Dựa trên tiêu chí phương thức thực hiện, an tử được chia thành an tử chủ động (active euthanasia) và an tử bị động (passive euthanasia). Theo đó, an tử chủ động là trường hợp cố ý can thiệp để chấm dứt cuộc sống của bệnh nhân, hành vi này hoàn toàn phụ thuộc vào sự vận động của các cơ quan trong cơ thể người bệnh như việc lưu 1 “Quyền an tử theo luật nhân quyền quốc tế, pháp luật ở một số quốc gia và gợi mở cho Việt Nam”, theo PGS, TS Vũ Công Giao, ThS.
Nguyễn Minh Tâm, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Bài viết đăng tải trên ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp số 4(308) - tháng 2/2016: https://bitly.vn/2avz87 2 Harris, NM. “The euthanasia debate”. J R Army Med Corps 147 (iii): 367-70. 3 Perrett RW (Oct 1996), “Buddhism, euthanasia and the sanctity of life” 10 thông máu sẽ đưa chất độc đi khắp cơ thể, đây có thể được coi là cách thức có hiệu quả trong mọi trường hợp dù tình trạng của bệnh nhân có như thế nào.
Trong khi đó, an tử bị động là việc thu hồi các biện pháp chữa trị, để bệnh nhân tự chết đi, vậy nên, an tử còn được coi là biện pháp tự nhiên và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhất là tình trạng bệnh nhân và tính chất của các phương pháp điều trị y học. An tử chủ động đem đến sự giải thoát nhanh hơn và dễ dàng hơn cho người bệnh, tuyên nhiên trước đây mọi hành vi an tử chủ động đều là bất hợp pháp, hiện nay một số hệ thống pháp luật của các quốc gia đã hợp pháp hóa nó và không còn phân biệt rạch ròi giữa hai phương pháp này. Trợ tử là việc tự sát được cam kết bởi một người nào đó với sự trợ giúp từ những người khác, thường là để chấm dứt sự đau đớn từ một bệnh tật thể lý trầm trọng. 4 Trong khi an tử là việc biết, trực tiếp hành động một cách có chủ đích đem đến cái chết nhẹ nhàng cho một cá nhân thì trợ tử được định nghĩa là việc biết, hành động trực tiếp một cách có chủ đích cung cấp phương tiện để cá nhân thực hiện việc tự tử, chẳng hạn như một bác sĩ kê đơn theo yêu cầu của bệnh nhân một liều thuốc gây tử vong, cái mà bệnh nhân muốn sử dụng để kết liễu cuộc đời của mình.
Như vậy, điểm khác biệt lớn nhất có thể thấy là chủ thể nắm giữ vai trò chủ đạo trong quá trình này, trong trợ tử là người bệnh sẽ thực hiện hành vi cuối cùng, và trong an tử là một người khác thực hiện toàn bộ hành vi (bao gồm cả hành vi cuối cùng). Ở hầu hết các nước đã thông qua luật an tử, hành vi trợ tử cũng được coi là hợp pháp và thường được dùng chung với nhau. Tuy nhiên chiều ngược lại lại không đúng, ở những nước chỉ mới hợp pháp hóa hành vi trợ tử, thì an tử có thể bị coi là hành vi vượt quá thẩm quyền và dẫn tới khả năng phải chịu trách nhiệm pháp lý hoặc trách nhiệm nghề nghiệp cho người thực hiện hành vi đó. Sau những phân tích trên, có thể hiểu rằng an tử là một cái chết nhẹ nhàng, an yên cho người chết và không buộc tội người thực hiện.
Trong đó, an tử có hai đặc điểm chính. Thứ nhất, an tử là cái chết nhân đạo vì nó giúp người bệnh thoát khỏi đau đớn bệnh tật không hy vọng cứu chữa. Thứ hai, 2, an tử phải có sự can thiệp y khoa (chủ động hoặc bị động) trong việc đánh giá tình trạng của bệnh nhân và quy trình thực hiện an tử. 4 Theo “Definition of Assisted Suicide” https://bitly.2 Quyền an tử (hay “Quyền được chết” - “right to die” Thực tế, quyền này chỉ được đặt ra ở các quốc gia đã hợp pháp hóa an tử, quyền được chết ban đầu xuất hiện gắn liền với khái niệm “cái chết êm dịu”, từ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là euthanatos, trong đó eu là tốt, thanatos là chết.
Biểu hiện ban đầu của các chết êm ả chính là trợ tử, thuật ngữ này bắt đầu xuất hiện rộng rãi vào thế kỷ XVII, nhằm khuyến khích các bác sĩ quan tâm đến sự đau đớn của người bệnh và giúp đỡ người sắp chết thoát khỏi thế giới này một cách nhẹ nhàng và dễ dàng hơn. Theo đó, quyền được chết là một thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ việc lựa chọn của con người cụ thể để tìm đến cái chết một cách tự nguyện nhằm giải thoát khỏi đau khổ, bệnh tật hoặc các lý do khác. Quyền được chết có thể được định nghĩa là quyền nhân thân và là đặc quyền của những cá nhân rơi vào trạng thái bệnh lý không có khả năng chữa trị, được quyết định kết thúc cuộc sống của mình với sự hỗ trợ của chủ thể có thẩm quyền và tuân theo các quy định chặt chẽ của pháp luật. Định nghĩa về quyền an tử có thể khác nhau tùy thuộc vào quan niệm của các nhà làm luật tại mỗi quốc gia nhưng nhìn chung tất cả đều loại bỏ hành vi an tử trái nguyện vọng ra khỏi nội hàm của khái niệm này.
Có quốc gia chấp nhận an tử chủ động, có quốc gia không, dẫn đến việc thu hẹp phạm vi khái niệm quyền an tử chỉ được thực hiện dưới hình thức bị động (bác sĩ dừng điều trị). Điều tương tự cũng xảy ra với việc có nên đặt ra giới hạn về độ tuổi đối với chủ thể hưởng loại quyền nhân thân đặc biệt này hay không?. Quyền an tử là một quyền nhân thân. Về bản chất, quyền an tử gắn liền với một chủ thể nhất định và không thể chuyển giao được cho chủ thể khác.
Ngay cả trong trường hợp người bệnh có chúc thư y tế và trao quyền quyết định vào tay một người khác trước khi mất khả năng tự quyết định thì cũng không thể coi là người bệnh đã chuyển giao quyền an tử của họ cho người khác. Bởi việc được người bệnh trao quyền sau đó sẽ quyết định như thế nào đều nằm trong dự tính của người bệnh nên khi người bệnh thực hiện các thủ tục trên, đồng nghĩa với việc họ chấp nhận thực hiện quyền an tử của mình trong trường hợp lâm vào tình trạng bệnh lý không thể cứu chữa và nhằm mục đích duy nhất là thoát khỏi đau đớn, khổ sở. Ngoài ra, quyền an tử còn mang tính chất phi tài sản bởi quyền an tử không thể đem ra mua bán, cầm cố, thế chấp. chủ thể 12 khác không thể đặt mình vào vị trí của người có quyền để hưởng thụ quyền này.
Quyền an tử là đặc quyền.