Chương 1: Quy định pháp luật về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu. Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật tại tỉnh Tây Ninh về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu và một số kiến nghị hoàn thiện. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU 1. Khái quát về hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu 1.
Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng dân sự Theo quy định tại Điều 385 BLDS năm 2015 đưa ra định nghĩa về hợp đồng: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”1. Định nghĩa này thể hiện đầy đủ các dấu hiệu pháp lý cơ bản và thể hiện đúng bản chất của hợp đồng. Tuy đã thể hiện được các dấu hiệu cơ bản của hợp đồng đó là sự thỏa thuận nhằm tạo lập hiệu lực giữa các bên, về nội dung cũng như mục đích của hợp đồng định nghĩa này chưa làm rõ. Trong đó, hợp đồng là một giao dịch dân sự có sự tham gia của hai hay nhiều bên.
Do đó, về phương diện lý luận có thể đưa ra định nghĩa về hợp đồng một cách chung nhất: “Hợp đồng là sự thỏa thuận cả hai hay nhiều bên nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản và các lợi ích khác, làm một việc hay không được làm một việc để thỏa mãn lợi ích nhất định của các bên hoặc của người thứ ba được chỉ định trong hợp đồng”2. Theo quy định tại Điều 116 BLDS năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”3. Từ hai khái niệm về hợp đồng và khái niệm giao dịch dân sự thì chúng ta có thể xem hợp đồng là một loại giao dịch dân sự. Cho nên, hợp đồng có những quy định riêng thì áp dụng những quy định riêng về hợp đồng, khi hợp đồng không có quy định riêng thì phải áp dụng những quy định chung về giao dịch dân sự.
Theo đó, hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc mua bán, trao đổi tặng cho, cho vay, cho thuê, mượn tài sản hoặc về việc thực hiện một số công việc, theo đó 1 Xem: Điều 385 BLDS năm 2015. 2 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), “Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr. 3 Xem: Điều 116 BLDS năm 2015.
9 làm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự giữa các bên tham gia xác lập hợp đồng. Hợp đồng có thể được giao kết bằng lời nói, hành vi cụ thể hoặc bằng văn bản. Tùy theo từng trường hợp hợp đồng phải được công chứng, chứng thực, đăng ký.Đối với hợp đồng mà pháp luật quy định phải đăng ký thì hợp đồng đó chỉ có hiệu lực khi được đăng ký và có hiệu lực từ thời điểm đăng ký. Ngoài những dấu hiệu pháp lý thể hiện bản chất của hợp đồng bên trên, thì hợp đồng còn có dấu hiệu đặc thù, làm cơ sở để phân biệt với các lại giao dịch khác.
Hợp đồng có đặc điểm như sau: Thứ nhất, “hợp đồng là một loại giao dịch dân sự được tạo lập bởi ý chí chung của nhiều người, đứng về nhiều bên có quyền và nghĩa đối ứng nhau”4. Hợp đồng được tạo lập do sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên, sự bộc lộ ý chí được thể hiện ít nhất trong các nội dung cơ bản thông qua hợp đồng. Sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể trong hợp đồng phải thống nhất ý chí là quan trọng. Nếu các chủ thể thỏa thuận với nhau mà dẫn đến không thể thống nhất về ý chí thì không có quan hệ hợp đồng như: Công ty A muốn bán một sản phẩm là dây chuyền đóng gói sản phẩm thủy sản cho công ty B, nhưng công ty B chỉ muốn thuê lại dây chuyền đóng gói.
Do đó, giữa công ty A và công ty B không thống nhất với nhau về mặt ý chí dẫn đến không có mối quan hệ hợp đồng. Đối với một số loại giao dịch mang hành vi pháp lý đơn phương, được tạo ra từ ý chí chung của hai hay nhiều người, không có quyền và nghĩa vụ đối ứng với nhau, các chủ thể này ở cùng một phía trong việc xác lập giao dịch dân sự, như: việc lập di chúc chung của vợ chồng thì đây không được xem là hợp đồng. Như vậy, hợp đồng phải là sự thỏa thuận thống ý chí với nhau của hai hay nhiều người, đứng về hai phía khác nhau, quyền của người này là nghĩa vụ của người kia, 4 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), “Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr.
10 ngược lại, nghĩa vụ của người này là quyền của người kia. Do đó, hợp đồng mang tính đối ứng với nhau. Thứ hai, “hợp đồng là sự kiện pháp lý, tạo ra sự ràng buộc pháp lý, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự dựa trên ý chí của các bên”5. Các chủ thể khi tham gia ký kết hợp đồng đều dựa trên sự thỏa thuận, tự do, tự nguyện, bình đẳng và phù hợp với quy định của pháp luật.
Các chủ thể bằng ý chí của mình để tạo ra quyền, nghĩa vụ và sự ràng buộc pháp lý đối với các bên tham gia vào việc xác lập hợp đồng. Sự ràng buộc pháp lý do các bên tự nguyện tạo ra, không do pháp luật quy định. Nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng là loại nghĩa vụ ước định, nghĩa vụ được tạo ra bởi sự thỏa thuận của các bên có giá trị pháp lý giống như nghĩa vụ do nhà làm luật ấn định. Chủ thể nào vi phạm, phải chịu trách nhiệm tương ứng với hành vi của mình gây ra, đối với nghĩa vụ ước định hay pháp định.
Nếu chủ thể vi phạm các nghĩa vụ pháp định hoặc các lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ, có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Nếu chủ thể vi phạm nghĩa vụ ước định có thể làm phát sinh trách nhiệm do không thực hiện đúng hợp đồng. Thứ ba, “hiệu lực ràng buộc của hợp đồng là hiệu lực pháp lý mang tính tương đối”6. Hợp đồng được giao kết hợp pháp, có hiệu lực bắt buộc đối với các bên tham gia ký kết, từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực.
Các bên có quyền và nghĩa vụ đối với nhau, theo cam kết trong hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận. Hợp đồng có thể bị sửa, hủy bỏ theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định pháp luật, đây được xem là nguyên tắc hiệu lực tương đối của hợp đồng. “Hiệu lực tương đối của hợp đồng còn thể hiện ở một số trường hợp, nếu pháp luật có quy định 5 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), “Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr.
6 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), “Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr. 11 hoặc các bên có thỏa thuận, hợp đồng có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, thậm chí có giá trị pháp luật đối với Tòa án”7. Do hợp đồng được ký kết phải dựa trên sự thỏa thuận, tự do, tự nguyện, bình đẳng không trái quy định của pháp luật.
Như vậy, hiệu lực của hợp đồng được bảo đảm bởi pháp luật như là quy định cụ thể về điều kiện, yếu tố pháp lý cần thiết để hợp đồng có hiệu lực và quy định về cơ chế pháp lý đảm bảo cho giá trị hợp đồng được các bên tham gia, cơ quan và tổ chức có thẩm quyền phải tôn trọng và tuân thủ theo sự thỏa thuận trong hợp đồng. Thứ tư, “mỗi loại hợp đồng thường có một mục đích chung xác định”8. Khi các bên gặp gỡ để hợp tác mua bán hay kinh doanh với nhau, đầu tiên họ tạo ra một hợp đồng để ràng buộc pháp lý giữa các bên tham gia. Các chủ thể này điều hướng đến mục đích của hợp đồng sau khi tham gia ký kết thu về được lợi ích và kết quả nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần trong các lĩnh vực kinh doanh, sản xuất và tiêu dùng.
Mục đích của hợp đồng là một trong những vấn đề pháp lý quan trọng của pháp luật hợp đồng, vì mục đích của hợp đồng không chỉ là căn cứ để thẩm định tính chất hợp pháp hay trái pháp luật, mà còn là dấu hiệu để phân biệt các loại hợp đồng trong các lĩnh vực khác nhau, tùy vào lĩnh vực mà có luật chuyên ngành điều chỉnh khác nhau. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng dân sự vô hiệu Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng không hợp pháp, do hợp đồng không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định nên không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Hợp đồng vô hiệu điển hình như: Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều kiện về năng lực chủ thể, ý chí, sự tự nguyện của chủ thể, điều cấm của luật, hình thức bắt buộc của hợp đồng. 7 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), “Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, Nxb.
Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr. 8 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2017), “Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, Nxb. Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, tr. 12 Đặc điểm chung của hợp đồng vô hiệu là không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định.
Khi hợp đồng vô hiệu, các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định, có thể bị bất lợi về vật chất và tinh thần, không đạt được mục đích của việc giao kết đã được xác định trước đó. Nếu các chủ thể chưa thực hiện thì sẽ không thực hiện giao dịch nữa, nếu chủ thể đang thực hiện thì phải chấm dứt để quay về tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.