Chương 1: Những vấn đề lý luận về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam. Chương 2: Quy định của bộ luật hình sự Việt Nam về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Chương 3: Thực tiễn áp dụng và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.
Khái niệm, ý nghĩa của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 1. Khái niệm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Điều 45 BLHS năm 1999 quy định: “Khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự” [18, tr. Như vậy các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS có ý nghĩa hết sức quan trọng khi quyết định hình phạt, là phương tiện để thực hiện nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong áp dụng pháp luật. Theo tác giả Đinh Văn Quế thì: “tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết trong một vụ án làm tăng mức độ nghiêm trọng của tội phạm và người phạm tội phải chịu một hình phạt nghiêm khắc hơn so với người không có tình tiết tăng nặng (trong một khung hình phạt)”.
16] Theo tác giả Dương Tuyết Miên thì: “các tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết được quy định trong BLHS phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, khả năng cải tạo giáo dục của người phạm tội. Các tình tiết tăng nặng TNHS có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt, làm tăng hình phạt trong giới hạn một khung hình phạt nhất định”. 191] Các tình tiết tăng nặng TNHS là sự thể hiện theo hướng làm tăng lên mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Khi những tình tiết này xuất hiện thì mức độ TNHS áp dụng đối với người phạm tội cũng tăng lên, do đó, người 7 phạm tội phải chịu TNHS nặng hơn.
Những tình tiết đó mang tính chất khách quan, được các nhà làm luật nhận thức và quy định trong BLHS để đảm bảo tính công bằng, tính nghiêm minh của pháp luật hình sự. TNHS, hình phạt chỉ đạt được mục đích trừng trị, giáo dục, cải tạo người phạm tội khi chúng được Toà án tuyên tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và người phạm tội. Các tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết không được ghi nhận bằng những dấu hiệu của cấu thành tội phạm, mà được ghi nhận trong phần chung của BLHS (Điều 48, BLHS năm 1999). Tình tiết tăng nặng TNHS không có ý nghĩa trong việc định tội, mà chỉ có ý nghĩa trong việc lượng hình, khi các tình tiết này xuất hiện, nó làm thay đổi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi theo hướng nghiêm trọng hơn, trong phạm vi một khung hình phạt của một tội phạm cụ thể.
Do đó, ảnh hưởng đến TNHS và hình phạt đối với người phạm tội, làm tăng hình phạt áp dụng đối với người phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt đã xác định. Từ những phân tích trên, có thể khái quát về các tình tiết tăng nặng TNHS như sau: Các tình tiết tăng nặng TNHS là những tình tiết của vụ án hình sự, không có ý nghĩa trong việc định tội mà chỉ có ý nghĩa trong việc lượng hình. Khi xuất hiện những tình tiết này trong vụ án hình sự sẽ làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt của một tội phạm cụ thể so với trường hợp thông thường ở trong cùng một loại tội. Ý nghĩa của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Ý nghĩa về mặt chính trị: Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thể hiện cụ thể đường lối, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
Khoản 2 Điều 3 của BLHS năm 1999 quy định: "Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố 8 chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng. Khoan hồng đối với người tự thú thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại đã gây ra” [18, tr. Quy định này thể hiện rõ đường lối xử lý nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục cải tạo đối với người phạm tội. Ý nghĩa về mặt xã hội: Việc quy định các tình tiết tăng nặng TNHS thể hiện chính sách nghiêm trị của Nhà nước ta đối với tội phạm, đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc công bằng trong lĩnh vực hình sự, có tác động tích cực trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Đối với mỗi tội phạm cụ thể thì các tình tiết tăng nặng TNHS không có giá trị tăng nặng như nhau, có tình tiết có ý nghĩa tăng nặng lớn, nhưng cũng có tình tiết chỉ có ý nghĩa tăng một phần nhỏ TNHS đối với người phạm tội. Do vậy, việc hiểu và vận dụng đúng đắn các tình tiết tăng nặng trong việc xác định TNHS trong mỗi trường hợp phạm tội cụ thể là tiền đề đảm bảo cho việc thực hiện nguyên tắc cá thể hóa TNHS và hình phạt. BLHS chỉ có thể quy định một cách khái quát mức hình phạt thấp nhất và cao nhất trong một khung hình phạt đối với một tội phạm. Vì trong thực tế mỗi tội phạm xảy ra rất khác nhau, phong phú, đa dạng về nguyên nhân, hoàn cảnh, mức độ thực hiện tội phạm, mức độ gây thiệt hại, về thân nhân người phạm tội, … Những tình tiết riêng biệt này đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đã xảy ra và TNHS của người phạm tội.
Do đó, việc quy định các tình tiết tăng nặng TNHS làm căn cứ để quyết định hình phạt đối với người phạm tội là thực hiện nguyên tắc cá thể hoá hình phạt, đảm bảo sự công bằng giữa các 9 công dân trước pháp luật, giúp đạt được mục đích của hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội. Ý nghĩa về mặt pháp lý: Các tình tiết tăng nặng là những tình tiết làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã được thực hiện, là cơ sở pháp lý để tăng nặng hình phạt đối với người phạm tội trong phạm vi của một khung hình phạt tương ứng cụ thể. Thể hiện nội dung nghiêm trị trong chính sách hình sự của Nhà nước ta, đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc cá thể hóa TNHS và hình phạt. Về mặt pháp lý, các tình tiết tăng nặng TNHS có ý nghĩa là một phương tiện phân hóa TNHS trong luật và cá thể hóa TNHS trong áp dụng pháp luật, là điều kiện cần thiết để đạt được mục đích của hình phạt.
Phân loại các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 1. Phân loại căn cứ tính chất của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Các tình tiết tăng nặng TNHS đều thể hiện việc làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, song do các tình tiết đó đều là biểu hiện sự nguy hiểm hơn của các yếu tố cấu thành tội phạm, của nhân thân người phạm tội, nên giữa các tình tiết có sự khác nhau về tính chất. Căn cứ theo tiêu chí này, các tình tiết tăng nặng TNHS được chia thành: Tình tiết tăng nặng TNHS thuộc yếu tố chủ quan của tội phạm. Tình tiết tăng nặng TNHS thuộc thân nhân người phạm tội.
Tình tiết tăng nặng TNHS thuộc yếu tố khách quan của tội phạm. Cách phân loại này sẽ giúp chúng ta một phần trong việc đánh giá đúng ý nghĩa của từng tình tiết tăng nặng đối với từng loại tội phạm, đưa ra phạm vi áp dụng của từng loại tình tiết tăng nặng. Cũng vì vậy, chỉ cần phân loại các tình tiết tăng nặng ở Điều 48 BLHS mà không phân loại các tình tiết tăng nặng đã được quy định là tình tiết định tội, hay tình tiết định khung hình phạt 10 vì đó là những tình tiết tăng nặng đã được quy định trong từng tội cụ thể, chỉ có giá trị định tội, định khung hình phạt. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc yếu tố chủ quan của tội phạm: Là những tình tiết phản ánh thái độ tâm lý, diễn biến tâm lý của người phạm tội trước, trong khi phạm tội có vai trò làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.
Tất nhiên, thái độ, diễn biến tâm lý phải liên quan trực tiếp đến việc thực hiện tội phạm. Các tình tiết này gồm có: Phạm tội vì động cơ đê hèn; Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc nhân thân người phạm tội: Những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội là những tình tiết phản ánh các đặc điểm thuộc về con người phạm tội thể hiện tính nguy hiểm ít hay nhiều của người phạm tội. Xét đến đặc điểm thân nhân không có gì trái với nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật mà lại là rất cần thiết vì Toà án xét xử một vụ án cụ thể cũng là xét xử một con người cụ thể.
Hình phạt chỉ có thể hợp lý, công bằng, cũng như chỉ có thể phát huy đầy đủ tác dụng khi nó tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và với tính chất, mức độ nguy hiểm của bản thân người phạm tội. Có những đặc điểm thân nhân liên quan hữu cơ với việc thực hiện tội phạm, nói lên mức độ nguy hiểm khác nhau của hành vi cũng như của người phạm tội, làm sáng tỏ mặt khách quan và chủ quan của tội phạm, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, khả năng tiếp thu giáo dục, cải tạo của họ. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc về nhân thân người phạm tội gồm: - Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. - Phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm.
- Có hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.