Chương 1: Những van dé lý luận về thi hành phần quyết định dân sự trong bản án hình sự theo pháp luật Việt Nam Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về thi hành phần quyết định dân sự trong bản án hình sự. Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật về thi hành phần quyết định dân sự trong bản án hình sự theo pháp luật việt nam và kiến nghị đề xuất nâng cao hiệu quả thi hành phần quyết định dân sự trong bản án hình sự. NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE THỊ HANH PHAN QUYET ĐỊNH DAN SU TRONG BAN ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm của thi hành phần quyết định dân sự trong bản án hình sự theo pháp luật Việt Nam 1.
Khái niệm thi hành phan quyết định dân sự trong bản án hình sự theo pháp luật Việt Nam Thị hành phần quyết định dân sự trong bản án hình sự là một hoạt động của thi hành án dân sự. Do vậy đề làm rõ khái niệm thi hành phần quyết định dân sự trong bản án hình sự thì cần hiểu rõ thi hành án dân sự là gì? Theo Đại từ điển tiếng Việt, thi hành là “Thực hiện điều đã chính thức quyết định ”[9]. Theo từ điển Luật học thì thi hành án là “giai đoạn kết thúc trình tự to tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phản quyết của toà án nhất định có hiệu lực pháp luật” [L7]. Dưới góc độ nghiên cứu khoa học pháp lý thì có nhiều quan điểm khác nhau về thi hành án dân sự, trong đó nổi lên hai hướng quan điểm.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Thi hành án dân sự là một giai đoạn tố tụng, quan điểm thứ hai cho rằng thi hành án dân sự là một giai đoạn mang tính hành chính — tư pháp. Cụ thé như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: Thị hành án dân sự là một giai đoạn tố tụng. Thi hành án là gia đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án là cơ sở dé tiến hành hoạt động thi hành án. Ở giai đoạn này, cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp được pháp luật quy định dé đưa chân lý trở thành hiện thực trong đời sống thực tế.
Thị hành án là hoạt động bảo vệ pháp luật khác về bản chất với các hoạt động hành chính là tổ chức và quản lý. Thi hành án nhằm mục đích thực thi các phán quyêt của Tòa án, đảm bảo các phán quyêt của Tòa án được thi hành và thi hành có hiệu qủa trên thực tế. Hoạt động thi hành án gắn liền với quá trình xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử [30]. Theo quan điểm này thì thi hành án là giai đoạn nằm trong quá trình quyết vụ án, theo đó giai đoạn tố tụng trước của giai đoạn xét xử là giai đoạn chuẩn bị xét xử, còn thi hành án là giai đoạn xét xử, giai đoạn thực thi các phán quyết của Tòa án trên thực tế.
Căn cứ duy nhất đề thi hành án là bản án, quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bố sung năm 2014, thì ngoài việc tô chức thi hành các bản án, quyết định về dân sự có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng được thi hành ngay, thì cơ quan thi hành án còn tổ chức thi hành cả quyết định của Trọng tài Thương mại là cơ quan không nằm trọng hệ thống các cơ quan tư pháp. Do đó, việc căn cứ vào công việc cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện để xác định thi hành án dân sự là một giai đoạn của tố tụng là chưa thuyết phục. Quan điểm thứ hai cho răng: Thi hành án không mang tính chất tố tụng thuần túy ma có nhiều tính chất của giai đoạn mang tính hành chính- tư pháp.
Ở đây có nhiều điểm khác nhau giữa tố tụng và quá trình thực hiện thi hành án. Hoạt động thi hành án là hoạt động đặc thù mà chủ thể thực thi không phải là Tòa án. Các thủ tục trong quá trình thi hành án mang tính hành chính- tư pháp hơn (đặc biệt là trong thi hành án kinh tế - tuyên bố phá sản doanh nghiệp, lao động và một phần của thi hành án hình sự đối với loại hình phat không phải là hình phat tù) [31]. Quan điểm này cũng là quan điểm mà người viết nhận thấy phù hợp với tính chất của thi hành án dân sự.
Điều này xuất phát từ các van đề sau: - Thứ nhất, mục đích của thi hành án dân sự là nhằm khôi phục tình trạng ban đâu quyên và nghĩa vụ của các chủ thê. Mặc dù Tòa án băng bản án, quyết định của xác định rõ quyên, nghĩa vu của các bên tham gia vào quá trình tổ tụng nhưng thực chất quyền và nghĩa vụ của các bên mới chỉ xác định được về mặt lý thuyết. Đề các quyên, nghĩa vụ này được thực thi trên thực té, cần thiết phải có một hoạt động tiếp theo dé tô chức thực hiện các quyền va nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định đó. Do đó, có thể thấy, mục đích của thi hành án dân sự là tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án biến các quyền, nghĩa vụ về mặt lý thuyết thành các quyên, nghĩa vụ thực tế.
Thông qua thi hành án dân sự, trật tự pháp luật, tình trạng ban đầu của các quan hệ do bị hành vi vi phạm xâm hại được khôi phục. Ngược lại, nếu ở giai đoạn điều tra, các cơ quan tiến hành tổ tụng không kiên quyết áp dụng day đủ, kịp thời các biện pháp ngăn chặn như thu giữ, kê biên, phong tỏa tài sản. thì đến giai đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án sẽ gặp rất nhiều khó khăn do đương sự cất giấu, tau tán tài sản dẫn đến tinh trạng án tồn đọng không thể thi hành được. Hoặc nếu một bản án, quyết định được Tòa án tuyên một cách công băng, thấu tình, đạt lý, rõ rằng, cụ thể, được dư luận ủng hộ, đồng tình thì việc thi hành án sẽ dễ dàng, nhanh chóng.
Như vậy, có thê thấy giữa thi hành án và các giai đoạn tố tung là mối quan hệ nhân quả với nhau. Tuy nhiên, thi hành án lại có tính độc lập tương đối thé hiện ở chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng cơ quan thi hành dân sự đối với thi hành án dân sự. Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án. Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu quả.
Tính chấp hành trong thi hành án phản ánh một đặc trưng chứng tỏ nó không đơn thuần là hoạt động tổ tụng thuần tuý. - Thứ hai, theo quy định của Luật Thị hành án dân sự được sửa đôi, bô sung năm 2014, thì cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm to chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Bản án, quyết định hoặc phan bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bi kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thâm; bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; quyết định giám đốc thâm hoặc tái thâm của Tòa án; bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định của Trọng tài Thương mại Việt Nam có hiệu lực thi hành) và những bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay (bản án, quyết định sơ thầm về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp mat việc làm, bảo hiểm xã hội hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe; nhận người lao động trở lại làm việc; quyết định khẩn cấp tạm thời dé bao đảm lợi ích cấp thiết của đương sự, bảo đảm cho việc xét xử và thi hành án. Cơ quan thi hành án dân sự phải tô chức thi hành đúng nội dung phần quyết định của bản án (trường hợp chủ động thi hành án); thi hành đúng nội dung bản án và đơn yêu cầu thi hành án (trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu). Cơ quan thi hành án không được tô chức thi hành án trái với nội dung quyết định của bản án.
Đồng thời, trong quá trình tổ chức thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự, sử dụng quyên lực nhà nước trực tiếp tác động đến các bên có liên quan đến việc thi hành án. Mặc dù, trong quá trình thi hành án, quyền định đoạt của các bên đương sự vẫn được tôn trọng, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận với nhau về cách thức thi hành án. Tuy nhiên, nếu như các bên không thỏa thuận được về phương thức thi hành án, hoặc đã thỏa thuận nhưng bên phải thi hành án không tự nguyện thực hiện đúng, thì cơ quan thi hành án dân sự sử dụng quyền lực nhà nước thông qua việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết đề tổ chức thi hành dứt điểm bản án, quyết định của Tòa án. Đây là một trong những dấu hiệu rất 10 đặc trưng thể hiện bản chất hành chính của thi hành án dân sự.
Tất cả các trường hợp, nếu như đương sự có điều kiện thi hành án, nhưng không tự nguyện thi hành, đều dẫn tới việc áp dụng biện pháp cưỡng chế dé thi hành dứt điểm bản án, quyết định của Tòa an. Mặt khác, mặc dù trong quá trình tô chức thi hành bản án, quyết định, chấp hành viên - người được Nhà nước giao nhiệm vụ trực tiếp tô chức thi hành án, chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của mình. Tuy nhiên, với tư cách là người thừa hành nhiệm vụ, chấp hành viên vẫn phải tuân theo sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự. Trong quá trình tổ chức thi hành án, nếu như chấp hành viên có vi phạm về mặt thủ tục thi hành án dẫn tới việc khiếu nại của đương sự, thì việc giải quyết khiếu nại được thực hiện thông qua thủ tục hành chính.