CHƯƠNG 1: MOT SỐ VAN BE CHUNG VE TỘI LÀM CHET NGUGI TRONG KHI THỊ HANH CÔNG VU LL. Khai niệm tội âm chết người trong khi thi hành công vụ Việc làm sáng tỏ nội ham khái niệm tội lam chết người trong khi thí hành công vụ cũng như đưa ra định nghĩa khoa học về tội pham nay có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn Trước hết, những phân tích về khái niệm và việc đưa ra định nghĩa về tôi phạm này sẽ tạo ra nén tăng lý luân cho việc phân tích và bình luận các quy đính vẻ tôi phạm nay trong Bộ luật Hình sự Bên canh đó, liên quan đến thực tiễn lập pháp hình sự, đây cũng sẽ là cơ sỡ cho việc đưa ra các dé xuất hoàn thiện quy đính cia Bộ luật Hình sự năm 2015 vé tôi làm chết người trong khi thi hanh công vụ. Đây là khải niệm của một tội phạm cụ thể được quy định trong luật tình sự, vi vay là khái niệm để chỉ một hanh vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm nay thể hiện ở chỗ tội phạm.
xâm hại tới một trong những khách thé quan trọng nhất được luật hình sự bảo. vệ la quyên song của con người. Bên cạnh đó, tinh nguy hiểm cho xã hội của tôi làm chết người trong khi thi hành công vụ còn thể hiện 6 lỗi của người phạm tội đối với việc thực hiện hành vi gây ra cái chết cho người khác. khác biệt của tôi phạm nay so với những tôi xâm phạm tính mang con người khác được quy định trong Bộ luật Hình sự chính là việc chủ thé của tôi phạm.
là người dang thí hành công vụ. Như vậy, nội dung cốt lối trong khái niệm tội lâm chết người trong khi thi hanh công vụ là vấn dé công vụ và thi hanh công, vụ. Để làm rõ được khái niệm “Tôi lam chết người trong khi thi hành công vụ" thì các khái niệm "công vụ”, “thi hảnh công vụ” vả "trong khi thi hành công vụ" cần phải được phân tích và nhận thức cụ thể. Công vụ là một thuật ngữ được xem sét đánh giả từ những gúc độ khác nhau.
Do đó, công vụ được hiểu theo các phạm vi rộng hẹp khác nhau. Theo cách hiểu chung nhất, công vu là công việc công. Các công việc này được thực hiện vi lợi ich chung, lợi ích công công, lợi ích sã hội. Trong khi đó, ở một pham vi hẹp hơn, công vụ chỉ giới hạn trong các hoạt động của Nhà nước.
Đây cũng chính là cach quan niệm về công vụ của nhiều nước trên thé giới. Theo cách hiểu nay, công vụ gắn lién chặt chế với con người lam việc. cho Nha nước và những công việc của Nhà nước do những con người đó thực hiện Hep hơn nữa, một số nước coi công vụ chỉ giới han trong phạm vi hoạt đông của các cơ quan hành chính mả không tính dén các hoạt đông lập pháp và tư pháp (xét zử vả công tổ) trong bộ máy nha nước. Sau đây là một số cách hiểu về công vụ: - Công vụ là các hoạt động của các cơ quan quyén lực Nhà nước.
- Công vụ là một hệ thống bao gồm tất cả hoạt đông của những người lao động mang tính dan sự trong các cơ quan nha nước và được bổ nhiệm dua trên năng lực, không phải dua vào sự liên kết chính trì". Theo cách hiểu như vay, không bao gồm các hoạt đông mang tính dân sự. - Công vu lả hoạt đông dem lại quyển lợi chung cho mọi người. Điễu nảy cũng có thể thấy.
công vu (thuật ngữ) cũng gin với khái niệm dich vụ công, khu vực công, hảnh chính công, - Công vụ gắn liễn trực tiếp với con người là công chức. Công vu bao gồm toan bô những người được Nha nước hoặc công đông lãnh thé bd nhiệm vao một công viếc thường xuyén trong một công sở hay mét thực thể công, va được xép vào một trong những ngạch của nênhành chính. 1 Bộ Nội Vụ, "Công chức, công vu”, Cuyẩn để 3 ‘te: etod moha govvnloplosdsikesovrccslsdminfchuyenvisa/ChuyenDx3 pdf, truy cập 3182020. 10 "rong số các ta liệu, thuật ngữ cổng vụ được hiểu theo mat số cảch sau: - Công vụ lé hoạt động của Nhà nước nhằm thực hiên ý chí của nhân dân - Công vụ la quy chế, nguyên tắc hoạt động của các cơ quan Nha nước nhằm thực hiện các chức năng quản lý 2 hội theo mục tiêu đã vạch ra - Công vụ là hoạt động thực hiện đường lồi, chủ trương chỉnh sách của Đăng va Nhà nước, - Công vụ là loại lao đông mang tính quyển lực, pháp lý được thực thi bồi đội ngũ công chức nhằm thực hiện các chỉnh sách của Nha nước.
- Căn cử vào những hoạt động của hệ thống các cơ quan Nha nước, có thể hiểu công vụ là "hoạt đông thực thi của hệ thông các cơ quan Nha nước do chính những con người của Nha nước thực hiện” ‘Voi cách hiểu nêu trên, đó là cách hiểu theo nghĩa rộng của từ công vụ. Tuy nhiên, tuy thuộc vao từng điều kiện cụ thé của quốc gia vả tinh hình cu thể, cách hiểu trên co thé khác nhau về quy mô, nội dung va nhóm công việc. - Công vu là hoạt động cia lực lượng vũ trang trong việc bio về dat nước chống xâm lược - Công vụ là hoạt động của các cơ quan lập pháp. Đó là những đại biểu dân cit hoạt động theo nhiệm kỷ.
Ở một số các trường hợp cu thể, các hoạt động déu do Nha nước thực. hiện, nhưng tham gia của nhiễu lực lượng khác cũng có thé coi đó là hoạt động mang tính công vụ. Ở nhiều nước, khi nói đến công vụ là nói đến hoạt đông phục vụ nha nước, công vu chỉ thuộc vẻ nha nước, còn hoạt động cia các tổ chức chính tri hay chính trị- zã hội là việc tiếng của các chủ thể của các tổ chức đó, không nằm trong phạm tri công vụ. Ở nước ta, hoạt động do các cán bô, công chức, viên chức trong bộ máy Nha nước, trong tổ chức chỉnh tri, các tổ chức chính trị-zã hội va nhiều tổ chức xã hội khác thực hiện thực chất của nhả nước của dân, do dân vả vì dân Hoạt động đó mang tính chuyên " nghiệp, thường xuyên và được bao dim bang ngân sách Nha nước, hay chỉ một phan từ ngân sách nha nước.
Như vậy, có thể hiểu đây la hoạt động công ‘vu với nghĩa đây đủ nhất của tir công vụ theo cách hiểu ở Việt Nam va theo quy định luật Việt Nam Tóm lại, dua trên những gi đã phân tích ở trên, có thé khái quát "công vụ là hoạt đồng mang tính quyển lực- pháp lý được thực thi bởi đội ngũ cán bộ, cổng chức, viên chức Nhà nước hoặc những người khác khi được Nhà ước trao quyển nhằm thực hiên các chức năng, nhiệm vụ của Nha nước trong quá trình quan lý toán diện các mất hoạt động của đời sống xã hội. Công vụ là phục vụ nha nước, phục vụ nhân dân và gin liên với quyền Tực nha nước”, GS. Nguyễn Ngọc Hoà đã đưa ra cách hiểu vẻ "công vụ" như sau: “Công vụ là loạt đông theo ding pháp luật của chit thé được co quan Nhà rước giao nhằm tực hiên nhiệm vu quản If hành chính Nhà nước bao gỗm quân i hành chính, tổ tung và thi hành án 2 ‘Nhu vay, công vụ có thể hiểu lả hoạt đông đúng pháp luật và những hoat động không đúng pháp luật thi không được coi lả công vụ. Theo đó, chủ thé của công vụ có thể la người có thẩm quyền ban hảnh văn ban áp dung quy pham pháp luật, là người có thẩm.
quyền thi hành các văn bản quy phạm pháp luật hoặc lả người có thấm quyển tiến hành các hoạt động khác mang tính pháp Ii ma không cn ban hảnh văn ‘ban quy pham pháp luật. Côn đổi với khải niệm "người thi hành công vu" tức là nói dén chủ thể thực hiện hoạt đông đúng pháp luật nay. Họ có thé là cán bô, công chức, viên Bộ Nội Vụ, "Công vụ công chúc", chuyên để 3 "te [l#bd moha gov vn/uploads/resourcesladmin/chuyenrrien/ChmyenDe3 pdf, tray cập, 31872020, Nguyễn Ngoc Hoà (2012), "Vấn thi hành công vụ và chế inh hông về chính ding trong Luật hình cự Việt Nam”, Tạp ol Luật hee, (2) chức của cic cơ quan Nha nước, té chức chỉnh trị, tổ chức chính tri - x hội, tổ chức chính trị - xã hội- nghề nghệp, tổ chức xã hội hoặc là cũng có thể lá một công dân bat kỳ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyển huy động, yêu cấu thực hiện nhiêm vu theo đúng pháp luật. Công việc của ho phải làm là thực hiên các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan Nha nước, các tổ chức nhằm phục vụ lợi ích chung của Nha nước, của xã hội và các hoạt động ay phải tuân thủ theo quy đính của pháp luật.
Người thi bảnh công vụ là người thi hành các hoạt động đúng pháp luật. Như vậy, trước hết người thi hành công vụ phải 1a người có thẩm quyền thực hiện các công vụ nhất định va ho đang thực hiến công vụ đó. Thông qua các phân tích tr có thể khẳng định được một người có thé là người thi hành công vụ vi họ có vị trí công tác thẩm. quyên tiến hành công vu nhưng ho chỉ thực sử là người thi hành công vụ khí ho đã thực hiện công vu, tức là hoạt động đúng pháp luật.
Như vây, tôi lam chết người trong khi thi hành công vu là tôi xâm phạm đến tính mang con người, được thực hiện bởi người đang thi hành các hoạt đông đúng pháp luật” "Từ những phân tích vé nội ham của khái niêm tôi làm chết người trong khi thi hành công vụ nêu trên, các nghiên cứu khác nhau đã đưa ra định nghĩa vẻ tôi pham này. Giáo trình Luật hình sư Việt Nam của Khoa luật Đại hoc Quấc gia Hà Nội định nghĩa: “Tội làm chết người trong kit tht hành công vụ được hiễu là trong kiủ thi hành công vụ đi làm chết người đo đìng vit lực ngoài những trường hop pháp luật cho phép". Giáo trình luật hình sự của Trường Đai học Luật Hà Nội cũng đưa ra định nghĩa: “Ta hành vt làm chốt người trong kit tht hành công vụ đo đừng vit luc ngoài những trường hop Ý Nguyễn Ngọc Hòa (2012), "Vấn đề th hinh công vụ và ch định phòng vệ chính đáng trong Luật inh sự Việt Nam", Tạp chí Luật học, @). 13 pháp luật cho phép"’.
Bên canh do, cũng có quan. 'Làm chết người rong kiu thi hành công vụ là hành vi đẳng vũ lực ngoài những trường hop pháp Iuật cho phép trong khi tht hành công vụ dẫn đến chết người5.