Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO VỆ CÁC QUYEN CON NGƯỜI BẰNG CÁC QUY PHAM VE LOI TRONG LUẬT HÌNH SỰ 1. Khái niệm và ý nghĩa các đặc điểm của các quy phạm về lỗi trong Luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm và ý nghĩa Trong pháp luật hình sự nước ta, nguyên tắc có lỗi là một nguyên tắc cơ ban. Một người dù thực hiện một hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng nếu không có lỗi thì không phải là tội phạm và không phải chịu TNHS và được quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015: “Tôi phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách coy hoặc v6 y,.” Vậy lỗi là gì? Trong cuộc sống, khi nói một người nào đó có lỗi là muốn thể hiện rằng người nào đó có hành vi sai trái và phải chịu trách nhiệm với hành vi sai trái này.
Như vậy, từ “/ô?” trong cuộc sống hàng ngày vừa có nghĩa là hành vi sai trái vừa có nghĩa là trách nhiệm đối với hành vi sai trái. Lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của một người đối với hành vi trái pháp luật của họ và hậu quả do hành vi đó gây ra [45, tr. Có thé thấy rằng, lỗi trong khoa pháp lý không phải là hành vi và cũng không phải là trách nhiệm. Lỗi trong khoa học pháp lý chính là thái độ của một người đối với hành vi của chính mình và hậu quả của hành vi đó [45, tr.
Luật hình sự cũng là một ngành thuộc khoa học pháp lý. Vì vậy, nhận thức chung của khoa pháp lý về lỗi cũng được áp dụng trong khoa học luật hình sự. Moi xử sự của con người déu chi sự chi phôi của quy luật khách quan nhưng con người nhờ hoạt động ý thức có khả năng nhận thức được quy luật và lợi dụng quy luật thực hiện mục đích của mình [21, tr. Điều đó có nghĩa là con người có khả năng nhận thức được quy luật khách quan, chuẩn mực xã hội, trật tự xã hội và lựa chọn ứng xử của mình, ứng xử có thể phù hợp với quy luật khách quan, chuẩn mực xã hội, trật tự xã hội cũng có thể không phù hợp với quy luật khách quan, chuẩn mực xã hội, trật tự xã hội.
Nếu như một cá nhân nào đó lựa chọn ứng xử trái với chuẩn mực xã hội, trật tự xã hội nói chung thì có nghĩa là người đó có hành vi trái với chuan mực chung của xã hội. Giáo trình Lý luận chung về NN & PL của Trường Đại học Luật Hà Nội khăng định: Một người bị coi là có lỗi khi thực hiện một hành vi trái pháp luật nếu đó là kết quả của sự tự lựa chọn, quyết định và thực hiện của chính chủ thé đó trong khi có đủ điều kiện dé lựa chọn, quyết định và thực hiện một ứng xử khác phù hợp với các quy định của pháp luật [45, tr. Trong một xã hội văn minh, mỗi con người đều có tự do. Sự tự do của con người được công nhận, bảo vệ trong Văn bản cao nhất là Hiến pháp và các văn bản Pháp luật.
Tự do là tình trạng một cá nhân có thể và có khả năng hành động theo đúng ý chí, nguyện vọng cua mình [14, tr. Một cá nhân không sống ngoài xã hội, mà là trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Nếu trong xã hội, mỗi cá nhân đều có tự do riêng mà không có chuan mực chung, sự tự đo sẽ tạo ra sự hỗn loạn. Vì vậy, sự tự do cá nhân bị giới hạn bởi các chuẩn mực chung.
Trong xã hội văn minh, cá nhân được tự do lựa chọn, quyết định và thực hiện ứng xử nhưng miễn là ứng xử đó không trái với chuẩn mực chung. Pháp luật được coi là chuẩn mực chung tối thiểu mà mọi người trong một xã hội phải chấp hành. Giáo sư Nguyễn Ngọc Hòa phân tích: Khi xã hội bảo đảm cho mỗi cá nhân được tự do thì cũng đòi hỏi cá nhân trên cơ sở của tự do phải đáp ứng đòi hỏi của xã hội. Đó là vấn đề trách nhiệm của cá nhân trong xã hội.
Trách nhiệm đó hoàn toàn phù hợp với tự do. Những đòi hỏi của xã hội, của Nhà nước đặt ra cho mỗi cá nhân là nhằm thực hiện sự tiến bộ, sự phát triển của xã hội theo tất yếu khách quan. Việc thực hiện những đòi hỏi đó, do vậy, cũng chính là sự thực hiện tự do. Con người có tự do dé thực hiện trách nhiệm va ngược lại, việc thực hiện đầy đủ trách nhiệm cũng chính là sự thực hiện tự do [21, tr.
Trong một SỐ trường hợp nhất định, một cá nhân không có được tự do trong nhận thức, lựa chọn, quyết định và thực hiện ứng xử của mình. Đó là trường hợp cá nhân không có kha năng nhận thức (chưa đủ độ tuổi tối thiêu nhất định dé được coi là có khả năng nhận thức) hoặc mat kha năng nhận thức (mặc dù đạt độ tuổi tối thiểu để được coi là có khả năng nhận thức nhưng do bệnh lý mà mất khả năng nhận thức). Đó cũng có thể là trường hợp, cá nhân bị khiếm khuyết một giác quan nên mat khả năng tri giác và dẫn đến mat khả năng nhận thức trong một số trường hợp nhất định. Bên cạnh đó, cũng có không ít những trường hợp, hoàn cảnh khách quan làm cho một cá nhân cụ thé không có kha năng nhận thức.
Chang hạn như trong trường hợp xảy ra sự kiện bất ngờ khiến chủ thể không thể nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi thì cũng không bi coi là có lỗi [3, tr. Như vậy, nếu như một cá nhân không có khả năng nhận thức hoặc mất khả năng nhận thức thì mặc dù người này có hành vi trái với pháp luật thì người này cũng không được coi là có lỗi và không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Trong lĩnh vực tư pháp hình sự, nếu một cá nhân không khả năng hoặc mat khả năng nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình thì cá nhân đó không có lỗi và không phải chịu TNHS. Đương nhiên, cần phải phân biệt giữa khả năng nhận thức với khả năng nhận thức thực tế.
Khả năng nhận thức được hiểu là một cá nhân 10 nhận thức được hoặc buộc phải nhận thức được hành vi đó gây ra nguy hiểm cho xã hội. Trong khi đó, nhận thức thực tế là trường hợp một cá nhân trong hoàn cảnh thực tế nhận thức được hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình. Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều đòi hỏi cá nhân phải có nhận thức thực tế. Trong nhiều trường hợp, cá nhân buộc phải nhận thức được hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội nhưng vì câu thả, thiếu hiểu biết mà không nhận thức được, trong trường hop nay, cá nhân vẫn được coi là có nhận thức về tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình.
Nếu như khả năng nhận thức thể hiện lý trí thì thái độ ứng xử lại thể hiện ý chi của người phạm tội [3, tr. Khi một cá nhân cụ thể đã nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình thì lựa chọn thực hiện hay không thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội lại phụ thuộc vao thai độ của người này đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội. Nếu như cá nhân lựa chọn không thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, thì có nghĩa là cá nhân đó là lựa chọn ứng xử phù hợp với yêu cầu của pháp luật. Tuy nhiên, cũng có trường hợp, do bị can trở hoặc ép buộc bởi yếu tố khách quan hay chủ quan nào đó mà cá nhân không thé lựa chon cách thức xử su nao khác ngoài thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Đối với trường hợp này, cá nhân không được xem là có lỗi và không bị buộc phải chịu trách nhiệm pháp lý. Giáo trình Lý luận chung về NN & PL của trường Đại học Luật Hà Nội phân tích: Một hành vi mặc dù trái pháp luật nhưng được thực hiện trong trường hợp chủ thể không có sự lựa chọn nào khác (bất kì ai trong điều kiện đó cũng chỉ có thể có sự lựa chọn như thế) hoặc trường hợp chủ thé bị mat tự do ý chí thì chủ thé được coi là không có lỗi, do vậy hành vi đó không bị coi là vi phạm pháp luật [45, tr. Ngược lại, nếu trong trường hợp cá nhân được tự do nhận thức, lựa 11 chọn, quyết định ứng xử của mình mà cá nhân đó đã lựa chọn một ứng xử trái với chuẩn mực chung, thì cá nhân đó có lỗi. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam — Phan chung của Khoa Luật (nay là trường Đại học Luật) — Đại học Quốc gia Hà Nội đã đưa ra khái niệm về lỗi như sau: Lỗi là trạng thái tâm lý của người phạm tội đối với hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, thể hiện qua việc khi thực hiện hành vi phạm tội chu thể nhận thức được tính chất nguy hiểm và tự đo lựa chọn việc thực hiện hành vi đó [33.
Nguyễn Ngọc Hòa coi lỗi là sự phủ định chủ quan đòi hỏi của xã hội [21, tr. Đồng thời, GS. Nguyễn Ngọc Hòa định nghĩa về lỗi như sau: Người thực hiện hành vi gây thiệt hại bị coi là có lỗi nếu khi thực hiện nhận thức được hoặc có đủ điều kiện để nhận thức được tính gây thiệt hại của hành vi và có đủ điều kiện để lựa chọn, thực hiện hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Mặc dù, hai khái niệm trên không đồng nhất về câu chữ và cách diễn đạt tuy nhiên hai khái niệm về lỗi trên đều chứa đựng đầy đủ đặc điểm của lỗi, đó là: Trước hết, lỗi phải được hiểu là một trạng thái của tâm lý.
Cả hai định nghĩa đều cho thấy lỗi không phải là hành vi cũng không phải là trách nhiệm, mà là trạng thái tâm ly của người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội. Tiếp đến, lỗi được biéu hiện ở khả năng nhận thức và sự tự do lựa chọn và quyết định ứng xử của người phạm tội.