phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Khóa luận gồm ba chương: Chƣơng 1. Những vấn đề lý luận về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Chƣơng 2. Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và thực tiễn thực hiện pháp luật về người đại diện theo pháp luật tại công ty TNHH dịch vụ cơ khí Hoàng Phát Đạt. Giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
4 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về doanh nghiệp 1. Khái niệm Nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển và đi lên mạnh mẽ, song song với sự phát triển đó là sự hình thành những doanh nghiệp nhỏ, vừa, thậm chí là doanh nghiệp lớn. Chính những doanh nghiệp đã góp phần cho sự tăng trưởng của nền kinh tế thế giới và đối với sự phát triển của Việt Nam cũng không ngoại lệ, doanh nghiệp là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình đi lên của nền kinh tế nước ta.
Tiếp cận từ nhiều khía cạnh nên có rất nhiều cách hiểu khác nhau về doanh nghiệp.Francois Perroux: “doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm và giá thành sản phẩm ấy”. Qua một cách nhìn khác theo quan điểm phát triển: “doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải. Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kị ch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được” [10]. “Đối với các nước tư bản thì cho rằng công ty là một tổ chức kinh tế được thành lập theo vốn chỉ chịu trách nhiệm về trái vụ của công ty trong phạm vi số vốn mà thành viên đó góp vào công ty.
Công ty được thành lập dựa trên một thỏa thuận về quản lý điều hành, thường gọi là điều lệ, có thể phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn và được thừa nhận là pháp nhân ở hầu hết các nước” [11]. 5 Đối với Việt Nam, Luật Doanh nghiệp quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh 1” [3]. Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam 2 [3]. Có thể thấy rằng, dưới mỗi một góc độ sẽ có một cách nhìn nhận khác nhau về khái niệm doanh nghiệp.
Mặc dù là những cái nhìn khác nhau nhưng vẫn tồn tại điểm chung đó là doanh nghiệp hoạt động với mục đích chủ yếu là kinh doanh. Thực tế hiện nay, các doanh nghiệp khi thành lập đều thực hiện và hướng đến một quá trình kinh doanh liên tục trong việc thúc đẩy sản xuất hoặc cung cấp các dịch vụ thế mạnh trên thị trường để sinh lời, kiếm lợi nhuận cao. Các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam vốn rất đa dạng, phong phú nên với mỗi loại hình sẽ có những đặc điểm khác nhau. Song bên cạnh những đặc điểm riêng nổi bật thì chúng đều mang những đặc điểm chung của doanh nghiệp như: Thứ nhất, doanh nghiệp có tính hợp pháp.
Tính hợp pháp ở đây thể hiện thông qua việc doanh nghiệp muốn thành lập công ty phải nộp hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký và nhận được giấy phép đăng ký thành lập. Khi nhận được sự giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được nhà nước công nhận sự tồn tại và trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm cho các hoạt động bằng chính tài sản riêng của mình. Đặc biệt khi doanh nghiệp vi phạm các quy định của pháp luật thì sẽ phải chịu trách nhiệm và bồi thường những thiệt hại do mình gây ra. Thứ hai, doanh nghiệp hoạt động phần lớn đều hướng đến mục đích lợi nhuận hoặc thực hiện cung ứng dịch vụ thường xuyên, lâu dài.
Có thể dễ dàng nhận thấy rằng các doanh nghiệp khi thực hiện các hoạt động kinh doanh mục đích chủ yếu là hướng tới lợi nhuận. Ví dụ đa số các doanh nghiệp khi thành lập đều hướng đến mục đích sinh lời tạo lợi nhuận qua việc mua bán, sản xuất, kinh doanh hàng hóa hoặc cung ứng để phục vụ người tiêu dùng. Mục tiêu hàng đầu của họ là lợi nhuận, để có thể duy trì sự phát triển cũng như tăng trưởng của doanh nghiệp. Tuy 1 khoản 10, Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2020.
2 khoản 12, Điều 4, Luật Doanh nghiệp 2020. 6 nhiên không phải tất cả các doanh nghiệp đều hướng tới mục đích đó, có một số doanh nghiệp xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà hướng đến yếu tố vì cộng đồng, vì xã hội và môi trường như các doanh nghiệp về điện, nước, vệ sinh,…đã giúp ích rất nhiều cho xã hội và con người. Thứ ba, là doanh nghiệp hoạt động có tính tổ chức. Tính tổ chức của doanh nghiệp được thể hiện qua cơ cấu bộ máy tổ chức điều hành, cơ cấu nhân sự rõ ràng.
Cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp là tổng hợp các bộ phận khác nhau có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, được chuyên môn hoá, có những trách nhiệm quyền hạn nhất định và được sắp xếp theo từng cấp từng khâu nhằm thực hiện các chức năng quản lý doanh. Đồng thời doanh nghiệp thành lập luôn có trụ sở giao dịch, đăng ký theo quy định và có tài sản riêng để quản lý kèm theo tư cách pháp nhân trừ loại hình doanh nghiệp tư nhân. Phân loại Hiện nay có rất nhiều cách phân loại doanh nghiệp, tùy thuộc vào các tiêu chí phân loại khác nhau để xác định được loại hình doanh nghiệp phù hợp. Thứ nhất, phân loại dựa trên hình thức pháp lý của doanh nghiệp Doanh nghiệp tư nhân: là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động trong doanh nghiệp.
Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân so với các loại hình doanh nghiệp khác, chủ doanh nghiệp có thể tự mình điều hành hoặc thuê người khác điều hành, quản lý tất cả hoạt động của doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì có tư cách pháp nhân khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Chủ sở hữu công ty có quyền quyết định tất cả vấn đề liên quan đến hoạt động công ty, có quyền chuyển nhượng tất cả hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác. 7 Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên: là doanh nghiệp, trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên góp vốn không vượt quá năm mươi thành viên và tối thiểu là hai thành viên. Thành viên góp vốn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp. Công ty cổ phần: là doanh nghiệp mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty hợp danh: là loại hình doanh nghiệp mà trong đó phải có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên gọi chung là thành viên hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn. Thứ hai, phân loại dựa vào chế độ chịu trách nhiệm của doanh nghiệp Căn cứ vào chế độ chịu trách nhiệm của doanh nghiệp, doanh nghiệp được phân chia thành hai loại là doanh nghiệp có chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp có chế độ chịu trách nhiệm vô hạn. Doanh nghiệp có chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn là loại hình doanh nghiệp mà người góp vốn hoặc chủ sở hữu doanh nghiệp chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi vốn góp của mình.
Doanh nghiệp có chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn thường là công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Doanh nghiệp có chế độ chịu trách nhiệm vô hạn là loại hình doanh nghiệp chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ của doanh nghiệp bằng tất cả tài sản sản của mình, kể cả việc trả nợ thay cho doanh nghiệp. Thứ ba, phân loại căn cứ vào quy mô của doanh nghiệp Cũng như sự phát triển không đồng đều của các quốc gia, doanh nghiệp hoạt động và phát triển với nhiều quy mô khác nhau, có rất nhiều doanh nghiệp phát triển với quy mô lớn thậm chí mở rộng ra nước ngoài nhưng cũng có những doanh nghiệp quy mô vừa, nhỏ hay siêu nhỏ. Cho dù quy mô doanh nghiệp lớn hay nhỏ thì chúng đều góp phần vào nền kinh tế của mỗi quốc gia.
8 Thứ tư, phân loại dựa trên bản chất kinh tế của chủ sở hữu Dựa trên bản chất kinh tế của chủ sở hữu doanh nghiệp được chi thành ba loại chính: doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp hợp doanh và doanh nghiệp có trách nhiệm hữu hạn. Thông thường doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng khá cao trong tổng số các doanh nghiệp, nhưng doanh nghiệp hữu hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất về doanh thu, đặc biệt trong lĩnh vực đòi hỏi vốn lớn như sản xuất hàng hóa, tài chính,.