Chương I NHUNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN CUA PHÁP LUẬT HÀNG HAI VIỆT NAM 1. Khái niệm chung 1. Thuật ngữ "luật hàng hai" "Luật hàng hai" (maritime law) được sử dụng với nhiều thuật ngữ khác nhau. Trong nhiều sách báo pháp lý và nhiều văn bản luật của các nước chúng ta vẫn thường gặp các thuật ngữ như "luật hang hải" (shipping law), "luật hàng hai" (maritime law), "tố tụng hang hải" (admiralty law/maritime procedure law), "công pháp hang hải quốc tế" (public international maritime law), "tư pháp hang hai quốc tế" (private international maritime law), "luật biển" (law of the sea), "luật thương mai hàng hai" (maritime commercial law), "luật hàng hải thương mai" (merchant shipping law) v.
Chúng ta có thể thấy việc sử dụng đa đạng thuật ngữ này ở luật hàng hải một số nước như: - Bộ luật Hàng hải Việt Nam (Vietnamese Maritime Code). - Bộ luật hàng hải Trung quốc (Maritime Code of the Peoples's Republic of China) [108, tr.’ - Luật tố tụng hàng hải Trung Quốc (Maritime Procedure law of Peoples's Republic of China) [108, tr.111-131]- - Bộ luật hàng hải Thụy Điển (The Swedish Maritime Code ) [96]. - Bộ luật hàng hải và tố tụng hàng hải Hoa kỳ (American Admiralty Act, Shipping Act, Merchant Marine Act) [97, tr. - Quy tic Té tung hang hai tic (Admiralty Rules of australia).
' Được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, ky họp thứ 7 thông qua ngày 30/6/1990, có hiệu lực thi hành kẻ từ ngày 1/1/1991. ? Được Quốc hội Trung quốc thông qua tại ky họp lần thứ 28 ngày 7/11/1992, có hiệu lực kế từ ngày 1/7/1993. * Được Quốc hội Trung quốc thỏng qua tại kỳ họp lần thứ 9 ngày 25/12/1999, có hiệu lực từ ngảy 1/7/2000. * Được ban hành năm 1994 trên cơ sở sửa đôi, bd sung từ Bộ luật năm 1891.
* Merchant Marine Act, 1936 và Admiralty Act, 1998. 12 - Bộ luật hàng hải thương mại Ukraina (Merchant shipping Code of Ukraina) [88]°. - Bộ luật hàng hải thương mại Singapore (Merchant shipping Act of Singapore). - Bộ luật hàng hải thương mại Anh (Merchant shipping Act of England ).
- Bộ luật biển Canada (Canadian Marine Act). - Luật vận tải biển Nhật bản (Marine Transportation law of Japan) [82]. - Luật hàng hải nằm trong Bộ luật Thương mại Nhật bản (The Commercial Code of Japan) [84]. - Bộ luật biển Hàn quốc (Marine Act) Sở dĩ có sự đa dang này vì có sự hiểu và giải thích khác nhau trong phạm vi của hệ thống luật Anh-Mỹ (common law) và hệ thống pháp luật Châu Âu lục dia (civil law), và sự khác nhau giữa hệ thống luật quốc gia.
Điều cần lưu ý là các nhà nghiên cứu lý luận đã phân tích và tranh luận về bản chất của luật hàng hải ở các góc độ hoàn toàn khác nhau như dưới góc độ pháp lý, khoa học, và thực tiễn. Ngay cả Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) và Liên hợp quốc trong các văn bản của mình cũng còn sử dụng thuật ngữ luật hàng hải không thống nhất, thậm chí trong các văn bản luật có tính hướng dẫn cũng sử dụng thuật ngữ này một cách khác nhau, ví dụ như khi thì sử dụng thuật ngữ "maritime law" (trong tai liệu "Maritime Legal Framwork" của IMO hay tài liệu "Guidelines for Maritime Legislation” của Liên hợp quéc),® khi thì sử dung thuật ngữ "shipping law" (A Model Shipping Act của IMO)[80].? Đây là lý do tại sao luôn tồn tại các định nghĩa khác nhau về khái Được X6 Viết tối cao của Ukrain thông qua ngày 9/12/1994. * Quyền số 4 "Maritime Commerce" trong tuyển tập The Commercial Code & The Audit Special exceptions Law of Japan, ban hanh nim 2003. niệm "luật hàng hải" và luôn là chủ đê tranh luận của các nhà nghiên cứu lý luận và thực tiễn.
Tuy nhiên, nghiên cứu sự phát triển của hoạt động hàng hải và nội dung của các văn bản luật hàng hải của nhiều nước, các tài liệu giảng dạy, nghiên cứu cho thấy thuật ngữ luật hàng hải có nội hàm khác nhau ở từng thời kỳ phát triển và tuỳ thuộc vào góc độ, quan điểm của người sử dụng. Hoạt động vận chuyên hàng hoá bằng đường biển đã được phát triển từ thời xa xưa và ở thời kỳ này con người chỉ quan tâm đến các khó khăn và tranh chấp liên quan đến hành hải trên biển (navigation) và thương mại hàng hải mà luật hàng hải mới chỉ đưa ra các quy định riêng liên quan đến hoạt động hành hải trên biển [79]. Vi vậy mà thuật ngữ “shipping law" đã được sử dung từ rất sớm và tồn tại suốt trong một thời kỳ dài cho đến bây giờ vẫn đang tiếp tục được sử dụng với quan niệm là "luật liên quan đến tau và vận chuyển hàng hoá bằng đường biển" (ships and shipping) mà không liên quan đến các hoạt động khác như hoạt động của cảng, hoạt động dịch vụ hàng hải, vấn đề bảo vệ môi trường, an toàn và an ninh hàng hải. Chúng ta có thê nhận thấy điều này ở nước có ngành hàng hải phát triển sớm thì sử dụng thuật ngữ "luật hàng hải" là "shipping law", như Bộ luật hàng hải thương mại của Anh, và hiện nay vẫn được nhiều nước sử dụng như Canada, Singapore, Ukraina.
Khi hoạt động hàng hải được phát triển với một nền công nghệ tiên tiến đòi hỏi hàng loạt các yêu tố khác có liên quan đến hoạt động của con tàu như an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, môi trường, cảng biển và các dịch vụ hàng hải. cũng phải được quan tâm và phát triển theo. Nếu luật hàng hải điều chỉnh hết các nội dung này của hoạt động hàng hải thì người ta sẽ sử dụng thuật ngữ "maritime law". Pháp luật hang hải Việt Nam sử dụng thuật ngữ luật hang hai “maritime law" với nội hàm rộng, điều chỉnh mọi hoạt động liên quan đên vận tải biên bao gôm các hoạt động liên quan 14 con tàu, hàng hải thương mại, thuyên viên, cảng biển, dịch vụ hàng hải, an toàn và an ninh hàng hải, bảo vệ môi trường biển.
Vì vậy, pháp luật hang hải Việt Nam được sử dụng với thuật ngữ là “maritime law" là phù hợp với thực tế và xu thế phát triển của hàng hải Việt Nam cũng như hàng hải thế giới. Qua các phân tích ở trên cho thấy, tuỳ vào mục đích thực tế và truyền thống pháp luật của mỗi quốc gia mà người ta có thể sử dụng các thuật ngữ khác nhau của luật hàng hải và rất khó có thể đưa ra một thuật ngữ chung về luật hàng hải. Để có thể đưa ra định nghĩa về pháp luật hàng hải Việt Nam chúng ta cần dựa trên cơ sở của lý luận chung vẻ pháp luật, cụ thé là cần phân tích các yếu tố cấu thành của nó như: đối tượng điều chỉnh, chủ thé, phương pháp điều chỉnh, nguồn của pháp luật hàng hải và một số đặc thù khác của của pháp luật hàng hải dựa trên lý luận chung về pháp luật Việt Nam. Đối tượng điều chỉnh của pháp luật hàng hải Theo lý luận chung về pháp luật thì "đối tượng điều chỉnh của pháp luật là những quan hệ xã hội mà pháp luật hướng tới, tác động tdi" [16, tr.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, các quan hệ xã hội có đặc thù khác nhau thuộc đối tượng điều chỉnh của các luật khác nhau, ví dụ như quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính mang tính chất chấp hành, còn quan hệ phát sinh trong lĩnh vực dân sự lại mang tính bình đăng, thoả thuận. Vậy, những quan hệ xã hội mà pháp luật hàng hải điều chỉnh là những quan hệ nào. Pháp luật hàng hải và tổ tụng hang hai điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phat sinh từ hoạt động hang hai và vận tải đường biển. Nói một cách khác, “pháp luật hàng hải điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến các đối tượng liên quan đên con tàu hoạt động trên biên và các sự kiện có liên quan bién”.'°Quan điểm này hoàn toàn phù hợp với lý luận pháp luật hàng hải Việt Nam và điều này được thể hiện rất rõ tại Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 1990.
Bộ luật Hàng hải Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, ky họp thứ 7 thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày | thang | năm 1991, một Bộ luật chủ đạo của pháp luật hàng hải thực định, đã khăng định rõ Bộ luật Hàng hải Việt Nam điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động hàng hải, đó là các hoạt động liên quan đến việc sử dụng tàu biển vào các mục đích kinh tế, nghiên cứu khoa học - kỹ thuật, văn hoá, thể thao, xã hội và công vụ nhà nước. !! Một trong những đối tượng có liên quan đến biển là tàu biển - đối tượng của rất nhiều mối quan hệ pháp lý như quan hệ giữa chủ tàu, người thuê tàu, người khai thác tàu với chủ hàng, người gửi hàng, người nhận hàng; quan hệ của tàu với cảng, người cung cấp dịch vụ tại cảng, hoặc quan hệ giữa các đối tượng này với nhau và pháp luật hàng hai có nhiệm vụ giải quyết những tranh chấp nảy sinh từ các quan hệ này. Ngoài ra, tàu biển và những người điều hành con tàu còn chịu sự điều chỉnh của các quy định về quản lý hành chính thuộc các lĩnh vực khác có liên quan như an toản, an ninh hàng hải, phòng ngừa 6 nhiễm môi trường biển. Căn cứ vào đặc thù của nó mà các quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động hàng hải có thê được xếp thành các nhóm quan hệ sau đây: 1.
Các quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động vận tải đường biển, tạo điêu kiện cho vận tải ngoại thương của một quốc gia. !# Tar liệu tại Hội thảo về bất giữ tàu do Nhà pháp luật Việt Pháp tổ chức vào tháng 8/2000 tại Trường Đại học luật Hà Nội. " Khoản 1, Điều 1, Bộ luật Hàng hai Việt Nam, 1990. 16 Các quan hệ này gồm: - Quan hệ của tất cả các bên có liên quan đến vận tải đường biển, đó là mỗi quan hệ giữa những người có quyên lợi liên quan đến hàng hoá và người vận chuyên, với chủ tàu như: quan hệ giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyên: quan hệ giữa chủ hàng, chủ tàu và người bảo hiểm.trong vận chuyên hàng hoá bằng đường biển.
- Quan hệ dân sự ngoài hợp đồng như: quan hệ giữa chủ tàu, người khai thác tàu với các bên có liên quan trong các vụ đâm va, trong phân bô tốn thất chung, trong trách nhiệm dân sự chủ tàu; quan hệ về sở hữu tàu, cầm cố, cầm giữ hàng hải, bắt giữ tàu biển, cứu hộ hàng hải v.