Chương 1. Một số vấn đề lý luận chung về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo Chương 2. Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo theo pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giao dịch dân sự do giả tạo CHUONG 1. MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN CHUNG VE GIAO DỊCH DAN SU VO HIEU DO GIA TAO 1.
Một số van đề lý luận chung về giao dịch dân sự vô hiệu 1. Khái niệm giao dịch dân sự vô hiệu Trong đời sống xã hội, việc con người tham gia vào các quan hệ xã hội là hoạt động bình thường và cần thiết nhằm duy trì sự ton tại, phát triển. Khi thiết lập các quan hệ xã hội đó, các chủ thé luôn mong muốn đạt được những lợi ích vật chất hay tinh thần nhất định. Trong đó, việc xác lập các quan hệ xã hội trong đời sống dân sự là chủ yếu như hoạt động mua, bán, tặng, cho, thừa kế tài sản.
được gọi chung là giao dịch dân sự. Giao dịch dân sự được thể hiện dưới dạng là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Mặc dù, giao dich dân sự được hiểu đó là hành vi pháp ly làm phát sinh, thay đổi hoặc cham dứt quyền và nghĩa vụ dân sự nhưng chỉ những giao dịch dân sự hợp pháp mới được pháp luật bảo vệ, còn những giao dịch không hợp pháp thì không được bảo vệ. Giao dịch dân sự hợp pháp là những giao dịch mà đáp ứng được các điều kiện có hiệu lực của giao dịch.
Tùy thuộc vào qui định pháp luật của mỗi quốc gia mà có những qui định về hiệu lực của giao dịch khác nhau. Theo đó tại Điều 117, BLDS năm 2015 có qui định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Ngoài ra, theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: “Giao dich dân sự không được pháp luật thừa nhận do không thỏa mãn một trong những điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật qui định. Khi giao dịch dân sự bị tuyên bo là vô hiệu, quyên và nghĩa vụ của các chủ thể trong giao dịch sẽ không được dam bảo thực hiện, các bên hoàn tra cho nhau những gi đã nhận.
Tài sản trong giao dịch dân sự vô hiệu có thể bị tịch thu sung công quÿ”[1, tr62].Nhu vậy, cũng được hiểu rằng những giao dich hợp pháp mới làm phát sinh quyên và nghĩa vụ của các bên va được pháp luật nhà nước bảo vệ. Một giao dịch dân sự phải tuân thủ ba điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, trong một số trường hợp giao dịch dân sự còn qui định bắt buộc phải tuân thủ về điều kiện hình thức. Như vậy, đối với các giao dịch dân sự không tuân thủ các nguyên tắc qui định vê điêu kiện có hiệu lực của giao dịch thì sẽ bi vô hiệu. Đồng thời, trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “giao dich dân sự vô hiệu” được sử dụng rất nhiều nhưng đến nay vẫn chưa có một tài liệu chính thống nào định nghĩa cụ thé về thuật ngữ này.
Theo Từ điển Luật học: “Giao dịch dân sự không có hiệu lực do không có một trong những điều kiện được pháp luật quy định” [2, tr295] nghĩa là muốn xác định giao dịch dân sự vô hiệu thì cần xác định được các điều kiện để giao dịch dân sự có hiệu lực. Cách xác định này đồng nhất với cách quy định tại Điều 122 BLDS năm 2015: “Giao dich dân sự không có một trong các điều kiện duoc quy định tại Điều 117 cua Bộ luật này thi vô hiệu, trừ trường hop Bộ luật nay có quy định khác ”. Theo đó, điều kiện dé giao dich dân sự có điều kiện bao gồm: Chủ thé có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập; Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cắm của luật, không trái đạo đức xã hội; ngoài ra về hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dich dân sự trong trường hop luật có quy định [3, Điều 117]. Tức là chi can thiếu một trong các điều kiện này thì giao dịch dân sự đã xác lập có thể trở thành giao dịch dân sự vô hiệu mà không phụ thuộc vào ý chí của các bên [4, tr 12 Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu.
Luận văn thạc sỹ luật học Trịnh Thị Hòa]. Việc các bên thiết lập giao dịch dân sự bị vô hiệu sẽ không làm phát sinh toàn bộ hoặc một phần quyền và nghĩa vụ của các chủ thê tham gia giao dịch. Đối với giao dịch dân sự vô hiệu, cho dù các bên tham gia giao kết đã thực hiện toàn bộ hoặc một phần quyền và nghĩa vụ theo cam kết thì việc thực hiện ay van không được công nhận về mặt pháp lý và các cam kết không có giá trị bắt buộc đối với các bên kể từ thời điểm các bên xác lập giao dịch đó. Tat cả những khái niệm trên đêu có diém chung là đưa ra khái niệm giao dich dân sự vô hiệu đêu dựa vào điêu kiện có hiệu lực của giao dich dân sự và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, phù hợp với quy định tại Điêu 122 BLDS năm 2015 về giao dịch dân sự vô hiệu.
Như vậy, có thé hiểu giao dịch dân sự vô hiệu là giao dịch dân sự trong đó về chủ thé, nội dung, mục đích và hình thức của giao dịch không tuân theo quy định của pháp luật dẫn đến không làm phát sinh hiệu lực một phan hoặc toàn bộ giao dịch đối với các bên.2 Phân loại giao dịch dân sự vô hiệu 1.1 Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối Căn cứ vào tính chất của giao dịch dân sự vô hiệu, giao dịch dân sự vô hiệu được chia làm hai loại: Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối (hay còn gọi là vô hiệu đương nhiên) và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối. Đây là cách thức phân loại truyền thống trong khoa học pháp lý, giữa các giao dịch này tồn tại một số điểm khác biệt sau: Thứ nhất, khác biệt về tính chất và trình tự vô hiệu của giao dịch Giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối được hiểu là giao dịch dân sự không có hiệu lực ngay từ khi giao kết, không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Hậu quả của việc vô hiệu tuyệt đối này là các bên phải chấm dứt thực hiện giao dịch và hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận đề quay lại đúng tình trạng ban đầu. Giao dịch vô hiệu tuyệt đối này đương nhiên không có hiệu lực pháp luật mà không cần Tòa án tuyên bố.
Còn đối với các giao dịch vô hiệu tương đối thì cần thông qua tuyên bố của Tòa án. Tòa án chỉ ra tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được khi có yêu cầu của chính người xác lập giao dịch hoặc người đại diện của người đã xác lập giao dịch. Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế 10 năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bồ giao dịch đó vô hiệu nêu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý. Với cách phân loại này có thê thấy, giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo là loại giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối.
Thứ hai, về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dich vô hiệu có sự khác biệt Đối với các giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối thì thời hiệu yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu thường không bị hạn chế. Còn đối với các giao dịch dân sự vô hiệu tương đối thì thời hiệu khởi kiện yêu cầu toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm; tùy theo từng trường hợp mà thời hiệu 02 năm được tính từ các thời điểm khác nhau (Điều 132 BLDS năm 2015). Ví dụ: Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn, lừa dối là 02 năm tính từ khi người bị nhằm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhằm lẫn, do bị lừa dối; hay thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bó giao dịch dân sự vô hiệu do bị đe dọa, cưỡng ép là 02 năm kê từ ngày người có hành vi đe dọa, cưỡng ép cham dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép.[5, Điều 132] Thứ ba, khác biệt về ý nghĩa quyết định tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu của Tòa án. Đối với giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối, giao dịch dân sự đó sẽ mặc nhiên không có giá tri thi hành, vi giao dịch đó vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
Do đó, quyết định tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu của Tòa án chỉ mang tính chất thông báo, xác nhận về việc giao dịch dân sự vô hiệu. Nhưng, với giao dịch dân sự vô hiệu tương đối thì phải có quyết định của Tòa án thì giao dịch đó mới trở nên vô hiệu. Quyết định của Toà án đối với giao dịch dân sự vô hiệu tương đối mang tính chất phán xử. Khi các bên chủ thể có đơn khởi kiện, các 11 chủ thé đó phải cung cấp day đủ chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là hợp pháp.
Tòa án sẽ dựa trên những chứng cứ mà các bên chủ thé cung cấp dé ra quyết định tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Chăng hạn, A và B xác lập hợp đồng mua bán ma túy, giao dịch dân sự này mặc nhiên vô hiệu mà không cần Tòa án tuyên bố. Tuy nhiên, trong trường hợp A bị B lừa dối mua phải hàng giả, A yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng mua bán vô hiệu A phải cung cấp được những chứng cứ chứng minh A bị lừa dối. Dựa trên những chứng cứ ma A cung cấp, Tòa án sẽ cân nhac xem có ra quyết định tuyên bồ giao dịch dân sự vô hiệu hay không.