Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Lam Kinh" do sinh viên Lê Thị Hằng thực hiện dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Vinh Hương tại Khoa Kinh tế - Luật, Trường Đại học Thương Mại (Hà Nội, năm 2016).
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả xác định hoạt động tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ là mạch máu lưu thông kinh tế, đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Đặc biệt, sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 07/11/2006 và ký kết Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) ngày 05/10/2015, quan hệ mua bán hàng hóa ngày càng đa dạng, đòi hỏi hành lang pháp lý điều chỉnh phải đồng bộ và minh bạch. Pháp luật về hợp đồng tại Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Thương mại năm 1997 cho đến Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005, đồng thời chuẩn bị chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2017). Nhận thức được tầm quan trọng của hợp đồng mua bán hàng hóa đối với hoạt động xây dựng và kinh doanh thực tế trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Lam Kinh, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu này.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm ba nội dung chính:
- Tiếp cận nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định hiện hành của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên;
- Nêu thực trạng thi hành các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa và đánh giá thực trạng đó;
- Lập luận đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả của pháp luật cũng như tính hiệu quả của hợp đồng mua bán hàng hóa trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, khóa luận giải quyết bốn nhiệm vụ cụ thể:
- Phân tích nội dung pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa, làm rõ các khía cạnh về trình tự thủ tục, điều kiện, nội dung và hình thức của hợp đồng;
- Làm rõ quyền và nghĩa vụ của các bên cùng các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa;
- Phân tích thực trạng quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam và đánh giá thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Lam Kinh;
- Đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật và hoàn thiện thể chế hợp đồng.
Về đối tượng nghiên cứu, khóa luận tập trung vào các vấn đề lý luận và quy phạm pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa (khái niệm, đặc điểm, ký kết, thực hiện, sửa đổi, giải quyết tranh chấp) cùng thực tiễn áp dụng các quy định này tại Công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Lam Kinh.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu hệ thống pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa kể từ thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005 được ban hành đến năm 2016.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu các quy định pháp luật trên phạm vi cả nước và khảo sát thực tiễn áp dụng tại Công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Lam Kinh (trụ sở tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La và địa bàn hoạt động tại các tỉnh lân cận).
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các đường lối, chính sách của Đảng, trọng tâm là Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở phân tích bao gồm:
- Bộ luật Dân sự năm 2005 (giữ vai trò luật chung) và Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Luật Thương mại năm 2005 (giữ vai trò luật chuyên ngành) cùng Luật Thương mại năm 1997;
- Luật Trọng tài thương mại năm 2010;
- Nghị định số 59/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh và kinh doanh có điều kiện.
Về khung tham chiếu quốc tế, tác giả đối chiếu với các chuẩn mực:
- Công ước của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG), trọng tâm là Điều 11 (hình thức hợp đồng), Điều 18 (chấp nhận đề nghị) và Điều 20 (thời hạn chấp nhận);
- Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế (PICC), cụ thể là Điều 2.8 về cách tính thời hạn chấp nhận đề nghị giao kết.
Các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành pháp lý được sử dụng gồm:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Đánh giá nội dung các quy phạm pháp luật và hệ thống hóa thực trạng giao kết, thực hiện hợp đồng tại doanh nghiệp.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 với Luật Thương mại năm 2005 để tìm ra các điểm mâu thuẫn, chồng chéo; đồng thời so sánh quy định trong nước với CISG và PICC nhằm đề xuất sửa đổi.
- Phương pháp diễn dịch - quy nạp và logic học: Luận giải các khái niệm, nguyên tắc pháp lý và khái quát hóa từ các trường hợp thực tiễn thành kiến nghị hoàn thiện.
- Phương pháp thu thập thông tin: Tập hợp số liệu, thông tin thực tế về cơ cấu tổ chức, quy trình đàm phán, mẫu hợp đồng và các biện pháp bảo đảm tại Công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Lam Kinh.
Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, các công trình giáo trình chuyên ngành (Giáo trình Luật Thương mại của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2011 do PGS.TS. Nguyễn Viết Tý chủ biên; Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2002 do TS. Phan Duy Nghĩa chủ biên; Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam năm 2008 của TS. Nguyễn Ngọc Điện; Giáo trình Pháp luật kinh tế của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2006 do TS. Nguyễn Hợp Toàn chủ biên) cùng tài liệu nội bộ, báo cáo và hồ sơ giao dịch thực tế của doanh nghiệp khảo sát.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Khái quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa
Chương I tập trung xây dựng cơ sở lý luận về chế định hợp đồng mua bán hàng hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở phân tích Điều 428 và Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 kết hợp với Khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, tác giả xác định hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Đó là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền; bên mua có nghĩa vụ nhận hàng, nhận quyền sở hữu và thanh toán tiền theo thỏa thuận.
Tác giả chỉ rõ 5 đặc điểm pháp lý cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa:
- Về chủ thể: Thiết lập chủ yếu giữa các thương nhân (Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại năm 2005), bao gồm tổ chức kinh tế thành lập hợp pháp hoặc cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, có đăng ký kinh doanh. Chủ thể không phải thương nhân chỉ áp dụng Luật Thương mại khi tự nguyện lựa chọn.
- Về hình thức: Thể hiện bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể (Điều 24 Luật Thương mại năm 2005), trong đó hình thức văn bản bao gồm cả điện báo, telex, fax và thông điệp dữ liệu.
- Về đối tượng: Đối tượng bắt buộc là hàng hóa, bao gồm động sản hiện có, động sản hình thành trong tương lai và vật gắn liền với đất đai, không thuộc danh mục cấm kinh doanh theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP.
- Về nội dung: Thể hiện quyền và nghĩa vụ qua các điều khoản về tên hàng, số lượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm và thời gian giao nhận.
- Về mục đích: Mục đích chủ yếu là tìm kiếm lợi nhuận của thương nhân.
Về cơ sở ban hành pháp luật, chương này phân tích ba trụ cột: cơ sở chính trị (đường lối đổi mới từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 về xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp); cơ sở kinh tế (chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập WTO năm 2006 và TPP năm 2015); cơ sở xã hội (nhu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong nhà nước pháp quyền).
Nội dung pháp luật điều chỉnh được khái quát qua 4 chế định: giao kết, thực hiện, sửa đổi/hủy bỏ/chấm dứt và giải quyết tranh chấp (Chương VII Luật Thương mại năm 2005 với 4 phương thức: thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án). Các nguyên tắc nền tảng chi phối bao gồm: bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng (Điều 389 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 10 Luật Thương mại năm 2005); tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận không trái pháp luật và đạo đức xã hội; áp dụng thói quen và tập quán thương mại; thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu; nguyên tắc thực hiện đúng, đầy đủ và hỗ trợ lẫn nhau.
Chương 2: Thực trạng pháp luật điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại CTCP Tư vấn và Xây dựng Lam Kinh
Chương 2 phản ánh thực trạng quy định pháp luật và khảo sát trường hợp điển hình tại Công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Lam Kinh. Doanh nghiệp mang tên giao dịch LK.JSC, mã số thuế 5500408195, người đại diện theo pháp luật là ông Bùi Văn Sơn; được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Sơn La cấp giấy phép kinh doanh ngày 27/08/2010 và chính thức hoạt động từ ngày 10/09/2010. Trụ sở đặt tại số 245 đường Lê Đức Thọ, tổ 14, phường Quyết Thắng, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Công ty hoạt động với cơ sở vật chất là tòa nhà văn phòng 5 tầng, lực lượng lao động khoảng 40 nhân viên chính thức, mạng lưới kinh doanh mở rộng từ Sơn La sang các tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái trong các lĩnh vực tư vấn quản lý xây dựng, thi công xây dựng công trình, vận tải đường bộ, đường thủy nội địa và cho thuê máy móc thiết bị.
Nghiên cứu xác định các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động mua bán hàng hóa của công ty gồm: nguồn hàng, uy tín nhà cung cấp, nguyên vật liệu (chất lượng gạch, cát, đá, xi măng, thép), năng lực nội tại (tài chính, con người, thiết bị) và yếu tố thời tiết khu vực vùng núi phía Bắc tác động đến tiến độ sản xuất và giao nhận.
Qua nghiên cứu quy phạm, tác giả chỉ ra các điểm bất cập, mâu thuẫn giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005:
| Vấn đề pháp lý |
Quy định tại Bộ luật Dân sự 2005 |
Quy định tại Luật Thương mại 2005 |
Hậu quả pháp lý và bất cập thực tiễn |
| Xác định chủ thể pháp nhân |
Quy định về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân, nhưng thiếu quy định về năng lực hành vi. |
Điều 6 quy định thương nhân gồm tổ chức kinh tế và cá nhân hoạt động độc lập, không bắt buộc đăng ký kinh doanh. |
Gây lúng túng khi xác định năng lực hành vi của pháp nhân và phạm vi chịu trách nhiệm thương nhân của chủ thể chưa đăng ký kinh doanh. |
| Hình thức hợp đồng |
Điều 401 quy định hợp đồng lập bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể. |
Điều 24 giới hạn trong ba hình thức: lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể. |
Thiếu sự linh hoạt mở như Điều 11 CISG (cho phép chứng minh hợp đồng bằng mọi phương tiện, kể cả nhân chứng). |
| Điều khoản đối tượng |
Không quy định bắt buộc phải có điều khoản đối tượng riêng biệt. |
Mặc định đối tượng là hàng hóa, không quy định điều khoản đối tượng là bắt buộc. |
Các bên thường bỏ qua điều khoản đối tượng, tạo kẽ hở pháp lý và phát sinh tranh chấp hàng hóa không phù hợp. |
| Đề nghị và chấp nhận giao kết |
Khoản 1 Điều 390 quy định đề nghị giao kết nhưng không nêu rõ các nội dung thiết yếu; Điều 397 quy định thông báo chấp nhận đến chậm do khách quan vẫn có hiệu lực trừ khi bên đề nghị từ chối ngay. |
Không quy định chi tiết trình tự đề nghị và chấp nhận, áp dụng theo pháp luật dân sự. |
Dễ gây thiệt hại cho bên được đề nghị khi họ đã phát văn bản chấp nhận đúng hạn nhưng bên đề nghị từ chối vì lý do thư đến muộn để ký với đối tác khác. |
| Thời hạn giao hàng |
Áp dụng nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ dân sự chung. |
Khoản 3 Điều 37 quy định giao trong "thời hạn hợp lý"; Khoản 2 Điều 38 cho phép bên bán giao bất kỳ thời điểm nào nếu có thông báo trước. |
Cụm từ "thời hạn hợp lý" mang tính chủ quan; bên bán giao hàng không cần sự đồng thuận của bên mua về thời điểm nhận hàng. |
| Xử lý chậm thanh toán |
Khoản 2 Điều 305 quy định trả lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố; chồng chéo trách nhiệm giữa Khoản 1 và Khoản 2. |
Áp dụng theo nguyên tắc bồi thường thiệt hại và chế tài thương mại. |
Lãi suất cơ bản thấp hơn lãi suất huy động và cho vay thực tế của ngân hàng thương mại, vô hình trung khuyến khích hành vi chiếm dụng vốn. |
| Chế tài phạt vi phạm |
Khoản 2 Điều 422 quy định mức phạt vi phạm do các bên tự thỏa thuận; Điều 378 quy định mức phạt không quá 5% giá trị nghĩa vụ. |
Điều 300 và 307 quy định mức phạt do thỏa thuận nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. |
Xung đột trực tiếp giữa nguyên tắc tự do thỏa thuận, trần 5% của BLDS và trần 8% của LTM; gây khó khăn cho Tòa án khi áp dụng. |
| Quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường |
Điểm 2 Khoản 3 Điều 422: Nếu chỉ thỏa thuận phạt vi phạm mà không thỏa thuận bồi thường thì bên vi phạm chỉ phải nộp phạt. |
Khoản 2 Điều 307: Nếu có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại. |
Áp dụng luật chung hay luật chuyên ngành dẫn đến hai kết quả giải quyết hoàn toàn trái ngược nhau về quyền lợi bồi thường. |
Đánh giá thực tiễn tại Công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Lam Kinh:
- Về giao kết hợp đồng: Công ty áp dụng cả hai hình thức ký kết trực tiếp và gián tiếp. Quá trình ký kết còn tồn tại việc soạn thảo điều khoản chung chung, thiếu chặt chẽ, chưa quy định cụ thể về điều khoản đối tượng hàng hóa và điều khoản bất khả kháng.
- Về thực hiện và bảo đảm hợp đồng: Doanh nghiệp áp dụng 3 biện pháp bảo đảm gồm cầm cố, đặt cọc và thế chấp/bảo lãnh. Trong đó, biện pháp cầm cố tài sản được đánh giá là an toàn hơn so với đặt cọc. Lý do là biện pháp đặt cọc tiềm ẩn rủi ro lớn: nếu công ty vi phạm hoặc từ chối thực hiện hợp đồng sẽ phải chịu phạt cọc gấp đôi số tiền đã nhận nếu các bên không có thỏa thuận khác.
- Về hạn chế nội bộ: Công ty chưa thành lập bộ phận pháp chế chuyên trách; đội ngũ cán bộ đa phần là lao động trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm pháp lý thực tế; việc cập nhật văn bản pháp luật mới còn hạn chế và việc soạn thảo văn bản chủ yếu dựa vào thói quen giao dịch cũ.
Chương III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa
Chương III đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể trên cơ sở thể chế hóa đường lối của Đảng (Đại hội IX, X, XI và Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị), nâng cao hiệu lực lập pháp và bảo đảm tính tương thích với thông lệ quốc tế.
Tác giả đưa ra các nhóm giải pháp chính:
Đối với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền:
- Về hoàn thiện nội dung và hình thức: Quy định điều khoản đối tượng là điều khoản bắt buộc trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Mở rộng hình thức hợp đồng, không chỉ bó hẹp trong ba hình thức tại Điều 24 Luật Thương mại năm 2005 mà cho phép sử dụng mọi hình thức hợp pháp chứng minh sự tồn tại của hợp đồng theo tinh thần Điều 11 CISG 1980.
- Về đề nghị và chấp nhận giao kết: Sửa đổi Bộ luật Dân sự theo hướng xác định cụ thể thời điểm bắt đầu tính thời hạn trả lời chấp nhận kể từ khi đề nghị được gửi đi (tiếp thu Điều 2.8 PICC). Quy định thời hạn chấp nhận hợp lý là 30 ngày kể từ ngày chuyển đề nghị nếu không ấn định thời hạn (tham khảo Điều 20 CISG, Điều 2.8 PICC và Điều 53 Luật Thương mại năm 1997). Bổ sung quy định kéo dài thời hạn sang ngày làm việc tiếp theo nếu ngày cuối rơi vào ngày lễ, ngày nghỉ tại nơi có trụ sở của bên đề nghị theo Khoản 2 Điều 20 CISG.
- Về xử lý nghĩa vụ chậm thanh toán: Sửa đổi Khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2005 theo hướng buộc bên chậm thanh toán phải trả lãi suất quá hạn theo thỏa thuận hợp đồng hoặc quy định lãi chậm trả được tính vào thiệt hại thực tế phát sinh, tránh tình trạng chiếm dụng vốn dựa trên lãi suất cơ bản.
- Về thống nhất chế tài phạt vi phạm: Xử lý dứt điểm mâu thuẫn giữa Điều 378, Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 300, Điều 307 Luật Thương mại năm 2005; thống nhất nguyên tắc xử lý mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
- Về trách nhiệm quản lý nhà nước: Các bộ, ngành củng cố tổ chức pháp chế hỗ trợ doanh nghiệp; Bộ Tư pháp làm đầu mối xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật hợp đồng toàn diện; UBND cấp tỉnh triển khai các chương trình trợ giúp pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Đối với Công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Lam Kinh:
- Lựa chọn đối tác và tìm kiếm khách hàng: Đa dạng hóa nhà cung cấp vật liệu xây dựng (thép, xi măng, gạch), tránh phụ thuộc vào vài bạn hàng quen thuộc; nghiên cứu thị hiếu theo vùng miền (khách hàng miền Bắc chú trọng tính kiên cố, tiêu chuẩn kỹ thuật của thép; khách hàng miền Nam quan tâm nhiều hơn đến giá cả).
- Nâng cao năng lực đàm phán và giao kết: Thành lập tổ chức pháp chế hoặc thuê tư vấn luật thường xuyên; xây dựng điều khoản hợp đồng rõ ràng, đặc biệt định nghĩa cụ thể các trường hợp bất khả kháng, điều khoản điều chỉnh giá và thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
- Nâng cao chất lượng thực hiện hợp đồng: Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật thương mại, ngoại ngữ và tin học cho lực lượng 40 nhân sự hiện có để giảm thiểu rủi ro pháp lý.
Kết quả và đóng góp
Về mặt kết quả, khóa luận đã hệ thống hóa các quy phạm điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa từ góc độ đối chiếu giữa luật chung (Bộ luật Dân sự năm 2005) và luật chuyên ngành (Luật Thương mại năm 2005), đồng thời gắn với bối cảnh chuyển giao sang Bộ luật Dân sự năm 2015. Nghiên cứu đã làm rõ thực trạng hoạt động mua bán hàng hóa tại Công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Lam Kinh, phân tích các số liệu thực tế về doanh nghiệp (thành lập từ năm 2010 theo giấy phép số 5500408195, quy mô 40 cán bộ nhân viên, mạng lưới thi công tại Sơn La và các tỉnh Tây Bắc).
Về mặt đóng góp khoa học, tác giả tự nêu sự khác biệt của đề tài so với các công trình nghiên cứu trước đó:
- Các nghiên cứu trước chỉ tiếp cận hợp đồng mua bán hàng hóa ở một giai đoạn hoặc phạm vi hẹp: nghiên cứu của Trương Thị Bích (năm 2012) chỉ giới hạn ở việc giao kết với thương nhân nước ngoài; công trình của Trương Thị Hà (năm 2015) chỉ tập trung vào giải quyết tranh chấp theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; luận văn của Nguyễn Thị Hường (năm 2010) chỉ phân tích nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng.
- Khóa luận này tiếp cận toàn diện chu trình vòng đời hợp đồng từ giao kết, thực hiện, sửa đổi, chấm dứt đến giải quyết tranh chấp; đồng thời kết hợp kiểm chứng qua thực tiễn hoạt động của một doanh nghiệp xây dựng cụ thể tại địa bàn miền núi phía Bắc, từ đó đưa ra các kiến nghị mang tính đồng bộ cho cả cơ quan lập pháp và doanh nghiệp áp dụng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định một số hạn chế do điều kiện thời gian và năng lực nghiên cứu của sinh viên: đề tài mới chỉ tập trung phân tích sâu vào hai giai đoạn trọng tâm là giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, chưa thể luận giải sâu sắc toàn bộ các khía cạnh pháp lý phức tạp khác.
Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất ba vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu:
- Thời điểm có hiệu lực và thời hạn của hợp đồng mua bán hàng hóa;
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và chế định phạt vi phạm hợp đồng;
- Chế tài thương mại và cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại trong bối cảnh thực thi Bộ luật Dân sự năm 2015 và các cam kết quốc tế.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại, Quản trị Kinh doanh và các học viên nghiên cứu về pháp luật hợp đồng thương mại tại Việt Nam.
Phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm:
- Hệ thống bảng luận giải các điểm mâu thuẫn, xung đột giữa Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật Thương mại năm 2005 (về mức trần phạt vi phạm 5% - 8% - tự do thỏa thuận; về quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại; về xử lý tiền lãi chậm trả);
- Các bài học kinh nghiệm thực tiễn trong công tác đàm phán, quản trị rủi ro đặt cọc, soạn thảo điều khoản bất khả kháng tại một doanh nghiệp kinh doanh vật liệu xây dựng (Công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Lam Kinh);
- Đề xuất lập pháp gắn với việc tiếp thu có chọn lọc các điều khoản tiến bộ của điều ước quốc tế (CISG năm 1980 và PICC).
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tác giả cho rằng biện pháp đặt cọc tại CTCP Tư vấn và Xây dựng Lam Kinh tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn biện pháp cầm cố tài sản?
Theo phân tích của tác giả tại Chương 2, khi áp dụng biện pháp đặt cọc, nếu công ty từ chối hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng mua bán hàng hóa thì phải trả lại cho đối tác số tiền đặt cọc cùng một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc (phạt cọc gấp đôi), trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Ngược lại, biện pháp cầm cố tài sản giúp doanh nghiệp nắm giữ tài sản thực tế của bên bảo đảm, từ đó giảm thiểu nguy cơ bị phạt tiền nặng nề khi phát sinh vi phạm.
2. Tác giả đã chỉ ra sự mâu thuẫn giữa BLDS 2005 và LTM 2005 về mức phạt vi phạm hợp đồng như thế nào?
Khoản 2 Điều 422 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định mức phạt vi phạm do các bên tự thỏa thuận, thể hiện sự tôn trọng quyền tự do giao kết; tuy nhiên Điều 378 của Bộ luật này lại quy định mức phạt vi phạm không quá 5% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Trong khi đó, Luật Thương mại năm 2005 quy định mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Sự không thống nhất về mức trần phạt vi phạm này tạo ra xung đột khi lựa chọn văn bản áp dụng.
3. Bất cập trong quy định về xử lý chậm thanh toán theo Điều 305 BLDS 2005 là gì?
Khoản 2 Điều 305 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định bên chậm trả tiền phải trả lãi theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Tác giả chỉ ra rằng mức lãi suất cơ bản trên thực tế luôn thấp hơn mức lãi suất huy động và thấp hơn nhiều so với lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng. Do đó, việc chỉ phải chịu lãi suất cơ bản vô hình trung tạo lợi thế cho bên vi phạm và khuyến khích các chủ thể chiếm dụng vốn của nhau. Ngoài ra, việc quy định trách nhiệm tại Khoản 1 và Khoản 2 của điều luật này chưa rõ ràng về việc loại trừ hay áp dụng đồng thời.
4. Khóa luận đề xuất áp dụng kinh nghiệm quốc tế nào để hoàn thiện quy định về thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng?
Tác giả đề xuất Bộ luật Dân sự tiếp thu Điều 2.8 của PICC để quy định thời điểm bắt đầu tính thời hạn trả lời là thời điểm đề nghị được gửi đi; đồng thời tiếp thu Điều 20 CISG và Điều 2.8 PICC để quy định thời hạn chấp nhận hợp lý là 30 ngày trong trường hợp bên đề nghị không ấn định thời hạn. Ngoài ra, tác giả đề xuất sửa đổi cách tính thời hạn theo Khoản 2 Điều 20 CISG: các ngày nghỉ, ngày lễ vẫn được tính vào khoảng thời hạn chấp nhận, nhưng nếu ngày cuối cùng rơi vào ngày nghỉ/lễ tại nơi có trụ sở của người chào hàng thì thời hạn sẽ được kéo dài sang ngày làm việc đầu tiên kế tiếp.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Hằng đã phản ánh một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam giai đoạn 2005–2016. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các điểm mâu thuẫn giữa luật chung và luật chuyên ngành, kết hợp nghiên cứu tình huống điển hình tại Công ty Cổ phần Tư vấn và Xây dựng Lam Kinh, công trình đã làm sáng tỏ nhiều vướng mắc trong giao kết và thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp xây dựng. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong khóa luận mang giá trị hoàn thiện khung pháp lý trong nước tiệm cận các chuẩn mực quốc tế, đồng thời cung cấp các định hướng thiết thực nhằm nâng cao năng lực pháp chế cho doanh nghiệp.