Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN GÂY RA 1. Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại 1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trong lịch sử pháp luật thế giới, TNBTTH là một trong những chế định có sớm nhất của pháp luật dân sự. Trải qua các thời kỳ lịch sử và ở những nước khác nhau, quy định về cách thức bồi thường, thiệt hại phải bồi thường, người phải bồi thường cũng như mức độ bồi thường là khác nhau.
Vấn đề này phụ thuộc vào quan điểm giai cấp, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Ngay từ thời La Mã cổ đại, Luật La Mã đã coi quyền khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại là một trong những nội dung cơ bản của quan hệ nghĩa vụ và là một “phương tiện đặc biệt để bảo vệ quyền sở hữu”2. Theo từ điển luật học, TNBTTH là: “Trách nhiệm của người có hành vi vi phạm, có lỗi trong việc gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần phải bồi hoàn cho người bị thiệt hại nhằm phục hồi tình trạng tài sản, bù đắp lồn thất tinh thần cho người bị thiệt hại"3. Đây là biện pháp cưỡng chế được áp dụng đối với người đã có hành vi vi phạm pháp luật giữ vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh và khôi phục về mặt tài sản, nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho bên bị thiệt hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức hoặc nhà nước.
Lý luận về TNBTTH đã được đặt những nền móng hết sức cơ bản và được kế thừa một cách tương đối thống nhất trong pháp luật của hầu hết các nước. Thông thường, các nước đều quy định TNBTTH phát sinh trên cơ sở sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng (như bồi thường thiệt hại trong hợp đồng) hoặc nghĩa vụ tương tự với hợp đồng (như thực hiện công việc không có sự ủy quyền, được lợi về tài sản không có 2 Nguyễn Ngọc Đào, Tìm hiểu pháp luật nước ngoài – Luật La Mã, NXB tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai, 2000, tr. 3 Viện khoa học pháp lý, Từ điển luật học, NXB từ điển Bách khoa – NXB Tư pháp, 2006, tr. 7 căn cứ pháp luật) hoặc trên cơ sở trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi trái pháp luật (như bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng).
Tại Việt Nam, ngay từ các Bộ luật cổ cũng đã xuất hiện những quy định về TNBTTH, tuy nhiên một điểm chung trong những quy định này thì đều không có sự tách biệt riêng giữa trách nhiệm bồi thường với các loại trách nhiệm khác. Ví dụ: Điều 29 Bộ luật Hồng Đức, Điều 466 Bộ luật Hồng Đức, Điều 201 và Điều 271 Bộ luật Gia Long4… thì đều lồng các quy định về hình phạt mang tính chất hình sự và phạt mang tính chất dân sự. Ngoài việc phải chịu hình phạt kẻ phạm tội còn phải bồi thường cho nhân thân người bị thiệt hại. Vì mang tính chất hình phạt nên mức bồi thường được pháp luật ấn định gấp đôi, gấp ba, gấp bốn lần thiệt hại thực tế đã xảy ra, chưa thể hiện được đúng bản chất của loại trách nhiệm này.
Các quy định pháp luật đều nhằm hướng tới bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị chứ không trú trọng vào việc bảo vệ quyền con người trong xã hội. Cùng với sự phát triển của xã hội và công cuộc đấu tranh giành độc lập, quan điểm pháp luật về TNBTTH cũng có những thay đổi cho phù hợp với thực tế đời sống xã hội, TNBTTH không còn được hiểu là hình phạt mà là nghĩa vụ, bổn phận của người gây thiệt hại, nhằm phục hồi tình trạng tài sản của người bị thiệt hại. Các quy định về TNBTTH hướng tới bảo vệ quyền lợi của những người bị thiệt hại và sâu xa hơn là nhằm hướng tới bảo vệ quyền con người và các quyền cơ bản của công dân. Hiện nay, trong Bộ luật Hình sự, bồi thường thiệt hại cho người bị hại được quy định theo hướng là một biện pháp tư pháp5 chứ không phải là hình phạt và yếu tố lỗi đóng một vai trò rất quan trọng như Luật cổ.
Trong BLDS, TNBTTH được khẳng định là một loại trách nhiệm dân sự, là loại trách nhiệm tài sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với mọi cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, yếu tố lỗi của người vi phạm cũng không đóng vai trò đặc biệt quan trọng như trong pháp luật hình sự. Theo BLDS năm 2005, TNBTTH được quy định tại Điều 307 và chương XXI của Bộ luật về TNBTTH ngoài hợp đồng. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng trong rất nhiều những quy định BLDS liên quan đến TNBTTH 4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam (tập 2), NXB Công an nhân dân, Hà Nội, 2017, tr. 5 Điều 48, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
8 nói trên thì không có quy định nào nêu ra khái niệm cụ thể về loại trách nhiệm này mà chỉ có quy định về căn cứ phát sinh TNBTTH, nguyên tắc bồi thường, năng lực chịu trách nhiệm bồi thường, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường. Theo đó, TNBTTH chỉ được định nghĩa dưới dạng liệt kê bao gồm TNBTTH về vật chất và TNBTTH bù đắp tổn thất và tinh thần6. - TNBTTH về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút (khoản 2, Điều 307, BLDS năm 2005). - TNBTTH bù đắp tổn thất về tinh thần được hiểu là việc một người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại (khoản 3, Điều 307, BLDS năm 2005).
BLDS năm 2015 ra đời không định nghĩa về TNBTTH dưới dạng liệt kê như BLDS năm 2005 nữa mà chỉ quy định thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần7. Tiếp cận dưới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi người sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người khác được hiểu là bồi thường thiệt hại.
Như vậy, chưa có một khái niệm cụ thể quy định về TNBTTH. Chính thiếu sót đó làm cho TNBTTH được hiểu một cách rời rạc, tản mát, không thống nhất và gây nhiều khó khăn cho hoạt động thực hiện pháp luật trên thực tế. Sau một quá trình 6 Khoản 1, Điều 307, BLDS năm 2005. 7 Khoản 1, Điều 361, BLDS năm 2015.
9 nghiên cứu và tổng hợp từ thực tiễn, tác giả xin được đưa ra định nghĩa về TNBTTH như sau: “TNBTTH là một loại trách nhiệm dân sự mà trong đó một hoặc nhiều chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường về vật chất và tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu khi các đối tượng được pháp luật bảo vệ bị xâm phạm”. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại TNBTTH là một loại trách nhiệm pháp lý vì vậy nó có đầy đủ đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung bao gồm: (i) Có sự cưỡng chế của Nhà nước và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng, (ii) Chỉ áp dụng khi có hành vi vi phạm pháp luật và đối với người có hành vi vi phạm, (iii) Mang lại hậu quả bất lợi cho người có hành vi vi phạm. Ngoài ra, TNBTTH còn có những đặc điểm riêng sau: Thứ nhất, về cơ sở pháp lý: TNBTTH là một loại trách nhiệm dân sự độc lập, không phụ thuộc hay thay thế trách nhiệm hình sự hay các loại trách nhiệm pháp lý khác, do pháp luật dân sự điều chỉnh, được quy định trong BLDS và các văn bản hướng dẫn có liên quan, dựa trên nền tảng từ những nguyên tắc chung của Hiến pháp8 và các nguyên tắc cơ bản được quy định trong BLDS9. Thứ hai, về cơ sở hình thành: TNBTTH được hình thành dựa trên sự thỏa thuận hợp pháp giữa các bên hoặc theo quy định của pháp luật, xuất hiện khi có sự kiện gây thiệt hại thì người gây thiệt hại phải bồi thường cho những thiệt hại đó.
Thứ ba, về khách thể của quan hệ bồi thường thiệt hại: Lợi ích mà các bên hướng tới trong quan hệ bồi thường bao giờ cũng mang tính chất tài sản, là “hành động” bù đắp những tổn thất cho người bị thiệt hại. Bởi lẽ, khi một người gây tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải được khắc phục thiệt hại chính là những những giá trị vật chất mà người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Hay nói cách khác là những thiệt hại mà bên gây thiệt hại gây ra sẽ được quy đổi thành giá trị vật chất nhất định như tiền để thực hiện việc đền bù nhằm cho bên bị thiệt hại nhằm khắc phục thiệt hại đã xảy ra. Do đó, những thiệt hại về tinh thần 8 Điều 20, Hiến pháp năm 2013.
10 mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại. Thứ tư, về chủ thể có nghĩa vụ bồi thường: Chủ thể bị áp dụng TNBTTH thông thường là người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại, trong một số trường hợp TNBTTH còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác có mối liên hệ với người gây ra thiệt hại như: cha, mẹ của người chưa thành niên; của người giám hộ đối với người được giám hộ; của pháp nhân đối với người của pháp nhân gây thiệt hại; trường học, bệnh viện hoặc tổ chức khác như cơ sở dạy nghề trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự… gây thiệt hại trong thời gian quản lý của những tổ chức này.