Chương 1 KHÁI NIỆM, NGUYEN TÁC THỰC HIỆN HOP DONG DAN SỰ 1. Khái niệm thực hiện hợp đồng dân sự Hợp đồng dân sự khi được giao kết hợp pháp có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Khi hợp đồng có hiệu lực sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết. Tuy nhiên, việc giao kết hợp đồng mới tạo ra hình thức pháp lý cho quan hệ trao đổi, còn quyền và nghĩa vụ mà các bên đặt ra có đạt được hay không phải thông qua hành vi trực tiếp là thực hiện hợp đồng.
Về bản chất, nghĩa vụ hợp đồng là quan hệ tạm thời và thậm chí là quan hệ ngắn hạn và phải được chấm dirt vào một thời điểm nào đó. Nghĩa vụ hợp đồng cham dứt khi các bên thực hiện đúng va đầy đủ hợp đồng. Khi thực hiện hợp đồng, theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS 2005) thì các bên sẽ chịu sự điều chỉnh trực tiếp của các điều luật tại mục 7, Chương XVII (từ Điều 412 đến Điều 422), đồng thời phải tuân thủ các quy định tại mục 2 Chương XVIII về thực hiện nghĩa vụ dân sự (từ Điều 283 đến Điều 301) và các quy định về từng loại hợp đồng cụ thé. “Thực hiện hợp đông” theo định nghĩa tại Từ điển luật học của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp là: “nhitng hành vi của các chủ thể tham gia quan hệ hợp dong nhằm làm cho các điều khoản, nội dung đã cam kết trong hợp đồng trở thành hiện thực ”.
Theo đó quá trình thực hiện hợp đồng cần tuân thủ những nguyên tắc về thực hiện hợp đồng đó là: việc thực hiện hợp đồng phải diễn ta với tinh thần trung thực, hợp tác và cùng có lợi, đảm bảo sự tin cậy lẫn nhau giữa các bên trong hợp đồng; thực hiện đúng các điều khoản, nội dung của hợp đồng mà các bên đã cam kết về đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại hàng hóa, dịch vụ; thời hạn thực hiện hợp đồng, thời hạn và phương thức thanh toán cùng các điều khoản thỏa thuận khác; không được xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Tùy theo tính chất của từng loại hợp đồng mà pháp luật quy định việc thực hiện hợp đồng: 1) đối với hợp đồng đơn vụ, bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng các nghĩa vụ mà hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. Nếu được bên có quyền đồng ý, bên có nghĩa vụ có thé thực hiện nghĩa vụ trước hoặc sau thời hạn mà hợp đồng đã quy định; 2) đối với hợp đồng song vụ, khi các bên đã thỏa thuận về thời hạn thực hiện nghĩa vụ thì mỗi bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình khi đến thời hạn quy định. Các bên không được tự ý hoãn việc thực hiện nghĩa vụ cho dù bên kia chưa thực hiện nghĩa vụ đối với mình, trừ trường hợp nghĩa vụ không thực hiện được do lỗi của một bên; 3) đối với việc thực hiện hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba thì người thứ ba có quyền trực tiếp yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với mình.
Trường hợp các bên có tranh chấp về việc thực hiện hợp đồng thì người thứ ba không có quyền yêu cau thực hiện nghĩa vụ cho đến khi tranh chấp được giải quyết. Bên có quyền trong hợp đồng cũng có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện đúng các cam kế trong hợp đồng vì lợi ích người thứ ba. Cũng theo định nghĩa tại cuốn Từ điển luật học Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp thì thực hiện nghĩa vụ là: “?hc hiện việc phải lam - hành động hoặc không hành động, làm hoặc không làm một việc. Trong giao lưu dân sự, nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ dân sự là người có nghĩa vụ dân sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cách trung thực, theo tỉnh thân hợp tác, đúng cam kết, không trái pháp luật, đạo đức xã hội.
Việc thực hiện nghĩa vụ phải được tiễn hành tại một nơi nhất định, vào một thời điểm nhất định do các bên thỏa thuận. Về mặt địa điểm, néu không có thỏa thuận thì, đối với bat động sản là nơi có bat động sản, trong trường hợp đối tượng thực hiện nghĩa vụ là bat động sản, nếu đối tượng là động sản thì nơi thực hiện nghĩa vụ là địa điểm cư trú hoặc trụ sở của người có quyên. Về thời hạn, nếu không có thỏa thuận và pháp luật cũng không có quy định thì các bên có thể thực hiện hoặc yêu câu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải thông báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lí”. Theo quy định tại Điều 280 BLDS 2005 thì “nghĩa vụ dán sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thé (sau đây goi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyên giao quyên, trả tiên hoặc giáy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ich của một hoặc nhiễu chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyên) ”, như vậy việc thực hiện nghĩa vụ dân sự (hay thực hiện hợp đồng) là thực hiện việc chuyển giao vật, chuyên giao quyén, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định.
Nói cách khác, đó là việc thực hiện những hành vi (hoặc không thực hiện những hành vi) thuộc đối tượng của hợp đồng. Khi đánh giá kết quả hợp đồng, bên có quyền bao giờ cũng đặt ra các vẫn đề: thứ nhất người có nghĩa vụ đã thực hiện các hành vi mà hai bên cam kết chưa và thứ hai, các hành vi đó được thực hiện như thé nào. Do chính là việc xem xét các nghĩa vụ trong hợp đồng có được thực hiện không, trong trường hợp có thực hiện thì thực hiện có đúng theo các cam kết không. “Thực hiện” ở đây được thể hiện qua việc thực hiện những hành vi cu thé hoặc không thực hiện những hành vi thuộc đối tượng của hợp đồng — hay còn gọi cách khác là thực hiện nghĩa vụ trên thực tế.
“Thực hiện đúng” chính là việc xem xét chất lượng thực hiện nghĩa vụ, tức là đánh giá, xem xét bên có nghĩa vụ có tuân thủ đúng các điều kiện về nghĩa vụ mà hai bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định, đó chính là việc thực hiện đúng đối tượng hợp đồng, đúng phương thức, thực hiện theo thỏa thuận của hai bên, thực hiện đúng về thời hạn, địa điểm. Khi các nội dung trên được thực hiện theo đúng thỏa thuận của các bên, theo quy định của pháp luật thì được coi là đã thực hiện nghĩa vụ trên thực tế đồng thời thực hiện đúng nghĩa vụ, còn trường hợp ngược lại, nếu các điều kiện về nghĩa vụ không được tuân thủ, dù các nghĩa vụ đã thực hiện bởi bên có nghĩa vụ thì vẫn sẽ bị coi là thực hiện không đúng nghĩa vụ. Về nội dung này, pháp luật của nhiều nước (như Anh, Nga, Đức.) đều thừa nhận vị trí riêng biệt của việc thực hiện nghĩa vụ trên thực tế và việc thực hiện đúng nghĩa vụ, theo đó khi một trong các bên không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế hoặc có thực hiện nhưng không đúng theo sự thỏa thuận thì có thể phải chịu các hậu quả pháp lý khác nhau. Ở nước ta, vấn đề này mới chỉ được đưa ra ở một số điều luật mà chưa có các quy định mang tính nguyên tắc, thống nhất và rõ ràng.
Cụ thể, theo quy định tại khoản 1 Điều 302 thì trách nhiệm dân sự được phân thành hai trường hợp là trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm do thực hiện không đúng nghĩa vụ. Hay tại Điều 303 BLDS 2005 khi quy định về trách nhiệm dân sự do không thực hiện nghĩa vụ giao vật đã quy định hai trường hợp đó là: khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ giao vật đặc định - không thực hiện nghĩa vụ trên thực tế thì người có quyền có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật; nếu vật bị hư hỏng (tức không thực hiện được đúng nghĩa vụ) thì bên có nghĩa vụ phải thanh toán giá tri của vật và bồi thường thiệt hại cho bên có quyên. - Thực hiện nghĩa vụ hợp đồng trên thực tế: về nguyên tắc, thực hiện nghĩa vụ hop đồng trên thực tế đòi hỏi người có nghĩa vụ phải tự nguyện thi hành những hành vi (hoặc không thực hiện những hành vi) thuộc đối tượng của hợp dong: chuyên giao vật, chuyển giao quyén, thực hiện một công việc nhất định. Việc thực hiện các nghĩa vụ này phải theo thỏa thuận và bên có nghĩa vụ không được tự ý thay thế việc thực hiện nghĩa vụ băng việc thanh toán một khoản tiền tương đương.
- Thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng chính là việc thực hiện đúng: đối tượng; thời hạn; địa điểm; phương thức; đúng với người có quyền tiếp nhận; thực hiện đúng nghĩa vu hợp đồng do đúng người có nghĩa vụ tiến hành. Như vậy, thực hiện hợp đồng là thực hiện những quyền và nghĩa vụ phát sinh trong hợp đồng. Thông thường, trong hợp đồng dân sự, quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia. Theo đó, ké từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, các bên tham gia hợp đồng đó có các quyền, nghĩa vụ đối lập nhau.
Nói cách khác, trong một hợp đồng nếu bên này có quyền thì đồng nghĩa với việc bên kia có nghĩa vụ, tương ứng với quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia. Tính chất tương ứng và đối lập nhau về quyền và nghĩa vụ dân sự giữa các bên trong hợp đồng dân sự dẫn đến hệ quả là quyền lợi của bên này chỉ đạt được khi bên kia thực hiện các hành vi mang tính nghĩa vụ. Chắng hạn, trong hợp đồng cho vay thì quyền thu lãi của bên cho vay chỉ đạt được chứng nào bên vay thực hiện hành vi trả lãi theo nợ vay. Nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự có thé chỉ là một hành vi nhưng có thê lại gồm nhiều hành vi khác nhau.
Các hành vi đó có thê phải tiến hành cùng một lúc, vào cùng một thời điểm hoặc có thé được tiến hành theo một quá trình trong một thời hạn nhất định. Việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng diễn ra như thế nào, điều đó phụ thuộc vào nội dung và tính chất của từng hợp đồng cụ thé.