Tổng quan luận án

Chế định biện pháp tư pháp (BPTP) là một bộ phận cấu thành trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước, giữ vai trò quan trọng bên cạnh hệ thống hình phạt nhằm xử lý tội phạm, khắc phục thiệt hại, giáo dục cải tạo người phạm tội và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong bối cảnh cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã mở rộng phạm vi điều chỉnh, lần đầu tiên quy định các BPTP áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội và sửa đổi các quy định áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Tuy nhiên, khoa học luật hình sự Việt Nam vẫn chưa xây dựng được cơ sở lý luận hoàn chỉnh về chế định này; các khái niệm pháp lý, đặc điểm, vai trò và mục đích của BPTP vẫn tồn tại nhiều nhận thức khác nhau. Trên thực tiễn, việc thi hành các BPTP còn gặp nhiều hạn chế do thiếu cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan liên quan (cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự, Ủy ban nhân dân, cơ quan công an, cơ sở y tế) và một số quy định pháp luật còn thiếu hướng dẫn cụ thể. Do đó, luận án "Chế định biện pháp tư pháp trong Luật hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn nêu trên.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm, cơ sở quy định BPTP; phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hình sự hiện hành nhằm xác định tính tương thích giữa lý luận và luật thực định; khảo sát thực tiễn áp dụng để chỉ ra những bất cập, vướng mắc; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các BPTP trong thực tiễn xét xử.

Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu lý luận về khái niệm, đặc điểm của BPTP; phân tích các quan điểm học thuật để xây dựng khái niệm khoa học về BPTP trong luật hình sự.
  2. Phân tích lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về BPTP và nghiên cứu luật hình sự một số quốc gia trên thế giới nhằm so sánh, rút ra các điểm tương đồng, khác biệt và bài học kinh nghiệm.
  3. Đánh giá quy định của pháp luật hình sự hiện hành và thực trạng áp dụng các BPTP tại Việt Nam, chỉ rõ các hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn xét xử và thi hành.
  4. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và các giải pháp bảo đảm nâng cao hiệu quả áp dụng các BPTP.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chế định các BPTP trong luật hình sự Việt Nam trên ba phương diện: phương diện lý luận (có tham chiếu lịch sử lập pháp từ năm 1945 đến trước năm 2015 và luật hình sự nước ngoài); phương diện pháp luật thực định (quy định của BLHS hiện hành); và phương diện áp dụng pháp luật (thực tiễn áp dụng và các giải pháp nâng cao hiệu quả).

Phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm:

  • Phạm vi không gian: Khảo sát các bản án, quyết định tố tụng trên phạm vi cả nước, có chọn điểm tại một số tỉnh, thành phố có số lượng án lớn.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tiễn áp dụng trong giai đoạn 10 năm, từ năm 2008 đến năm 2017.
  • Giới hạn nội dung thực tiễn: Luận án khảo sát dữ liệu thực tiễn đối với 500 bản án hình sự áp dụng BPTP đối với cá nhân phạm tội; không khảo sát số liệu thực tiễn đối với pháp nhân thương mại phạm tội do tại thời điểm nghiên cứu, BLHS năm 2015 mới có hiệu lực hơn 2 năm, số lượng vụ án xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại còn rất ít nên chưa đủ dữ liệu thống kê để khảo sát.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến chế định BPTP theo các nhóm nội dung:

Các công trình nghiên cứu trong nước

Nhóm công trình nghiên cứu tổng quát về BPTP và trách nhiệm hình sự:

  • Sách chuyên khảo "Trách nhiệm hình sự và hình phạt" của Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn, Phạm Thị Liên Châu phân tích sự khác biệt giữa hình phạt và các BPTP, làm rõ mục đích của hình phạt làm cơ sở đối chiếu với BPTP.
  • Sách chuyên khảo "Trách nhiệm hình sự và miễn trách nhiệm hình sự" của Lê Cảm, Phạm Mạnh Hùng, Trịnh Tiến Việt xác định BPTP là một dạng thực hiện trách nhiệm hình sự (TNHS) bên cạnh hình phạt.
  • Sách chuyên khảo "Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)" và "Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền" của Lê Cảm đề xuất mô hình lý luận và kiến nghị đưa định nghĩa BPTP vào BLHS.
  • Sách chuyên khảo "Hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam" của Trịnh Quốc Toản so sánh BPTP với hình phạt bổ sung về bản chất cưỡng chế nhà nước.
  • Sách chuyên khảo "Hoàn thiện các quy định của phần chung Bộ luật hình sự trước yêu cầu mới của đất nước" của Trịnh Tiến Việt phân tích các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người dưới 18 tuổi và so sánh với biện pháp xử lý hành chính.
  • Sách "Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)" của Nguyễn Thị Phương Hoa và Phan Anh Tuấn phân tích tính khả thi của các biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân thương mại.
  • Sách chuyên khảo "Nhận thức khoa học về phần chung pháp luật hình sự Việt Nam sau pháp điển hóa lần thứ ba" của Lê Văn Cảm và tập thể tác giả phân tích kỹ thuật lập pháp và mô hình hoàn thiện chế định cưỡng chế hình sự.
  • Luận án tiến sĩ của Phạm Mạnh Hùng ("Chế định trách nhiệm hình sự theo Luật hình sự Việt Nam") và Nguyễn Minh Khuê ("Các hình phạt chính không tước tự do trong Luật hình sự Việt Nam").
  • Các đề tài nghiên cứu cấp bộ của Đặng Quang Phương và Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) về thực tiễn thi hành các biện pháp không giam giữ và BPTP từ năm 1999.
  • Các bài báo khoa học của Phạm Hồng Hải (2000), Lê Cảm (2000), Trương Quang Vinh (2010), Nguyễn Thị Ánh Hồng (2012), Lê Cảm và Mạc Minh Quang (2015).

Nhóm công trình nghiên cứu về từng biện pháp tư pháp cụ thể:

  • Luận văn thạc sĩ của Dương Thị Tố Nga (về người chưa thành niên), Ngô Thanh Sơn (về bắt buộc chữa bệnh tại TP. Hồ Chí Minh), Vũ Thị Phượng (về trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại), Trần Thị Huyền (về TNHS của pháp nhân).
  • Các bài viết chuyên đề của Nguyễn Văn Trượng (2005), Nguyễn Thị Tuyết (2009), Trần Đức Dương (2009), Nguyễn Thị Tuyết và Phạm Thị Bích Ngọc (2009), Nguyễn Ánh Hồng (2011), Đỗ Văn Chỉnh (1999), Phan Hồng Thủy (2002), Nguyễn Hòa Bình (2002), Nguyễn Văn Chiến (2003), Hồ Sỹ Sơn (2004), Vũ Văn Tiếu (2009), Nguyễn Sơn Hà (2010), Phạm Văn Thiệu (2012), Quách Thành Vinh (2013), Lưu Hải Yến (2015/2016), Nguyễn Thị Phương Hoa (2015/2016).
  • Tài liệu các hội thảo khoa học do Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính (Bộ Tư pháp) và Viện kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp với UNICEF tổ chức về tư pháp phục hồi và bảo vệ người chưa thành niên.

Các công trình nghiên cứu nước ngoài

  • Sách chuyên khảo: "Pénologie" của Bernard Bouloc (Pháp) phân loại biện pháp an ninh mang tính giáo dục và tính vô hiệu hóa; "Droit pénal général" của Jacques Leroy (Pháp) tiếp cận biện pháp an ninh dưới góc độ bảo vệ xã hội; "Strafrecht Allgemeine Teil" của Helmut Fuchs (Áo); "Strafrecht Lehrbuch" của Kristen Kuehl (Đức); "Strafrecht Allgemeiner Teil" của Kindhaeuser (Đức); tác phẩm cổ điển "On crime and punishment" của Cesare Beccaria (thế kỷ XVIII).
  • Luận án tiến sĩ: Jenny Frinchaboy (nghiên cứu so sánh hệ thống đơn theo dõi của Pháp và hệ thống song song của Đức về biện pháp an ninh); Trần Văn Dũng (nghiên cứu so sánh TNHS của người chưa thành niên giữa Pháp và Việt Nam).
  • Bài báo và báo cáo khoa học: Constantin Sima (Rumani), Maizer Chankseliani (khảo sát luật hình sự 27 quốc gia), Nicolas Queloz (Thụy Sĩ), Frieder Dunkel (Đức), Phillipe Xavier Bender (Pháp), báo cáo của Bộ Tư pháp Liên bang Thụy Sĩ, báo cáo của tổ chức Cải cách Hình sự Quốc tế (Penal Reform International - PRI) tại khu vực Tây Phi.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Qua tổng thuật tài liệu, luận án xác định các vấn đề còn bỏ ngỏ hoặc chưa thống nhất cần giải quyết:

  • Xây dựng một công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống ở cấp độ luận án tiến sĩ về chế định BPTP trong luật hình sự Việt Nam.
  • Làm rõ bản chất pháp lý của BPTP trong mối quan hệ với trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự (đặc biệt đối với biện pháp bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản).
  • Phân tích và làm rõ các điểm mới của BLHS năm 2015, bao gồm các BPTP áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội và việc chuyển đổi biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn ra khỏi chế định BPTP đối với người dưới 18 tuổi.
  • Khảo sát thực trạng áp dụng trên mẫu 500 bản án để đánh giá toàn diện vướng mắc thi hành liên ngành giữa cơ quan tư pháp, cơ quan thi hành án và cơ sở điều trị/giáo dục.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin (phép biện chứng duy vật và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp (trọng tâm là Nghị quyết số 49-NQ/TW).

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng gồm:

  • Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Sử dụng xuyên suốt các chương để đối chiếu giữa mô hình lý thuyết của khoa học luật hình sự, các quy định thực định trong BLHS và thực tế xét xử tại Tòa án.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và đánh giá: Phân tích cấu trúc các điều luật quy định về BPTP trong BLHS năm 2015, tổng hợp các quan điểm khoa học trong nước và quốc tế để xây dựng khái niệm, phân loại các BPTP.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các mô hình lập pháp hình sự của Pháp, Đức, Áo, Thụy Sĩ, Rumani, Montenegro với Việt Nam nhằm rút ra bài học kinh nghiệm lập pháp.
  • Phương pháp thống kê: Chọn mẫu ngẫu nhiên 500 bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật tại các Tòa án nhân dân cấp tỉnh trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 2008 - 2017 nhằm thống kê tần suất áp dụng, các nhóm tội phạm áp dụng BPTP phổ biến và các sai sót thực tiễn.

Nguồn dữ liệu và tư liệu nghiên cứu:

  • Văn bản quy phạm pháp luật: BLHS các năm 1985, 1999, 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, 2015; Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Thi hành án hình sự năm 2010, 2019; Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012; các văn bản dưới luật liên quan.
  • Dữ liệu thực tiễn: 500 bản án hình sự cấp tỉnh giai đoạn 2008 - 2017.
  • Dữ liệu học thuật: Sách chuyên khảo, giáo trình, bài báo khoa học, luận án, kỷ yếu hội thảo trong nước và quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Luận án có kết cấu gồm 3 chương nội dung chính:

Chương 1. Những vấn đề chung và pháp luật hình sự một số nước về các biện pháp tư pháp

Chương 1 tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận của chế định BPTP và kinh nghiệm lập pháp quốc tế:

  • Khái niệm và đặc điểm của BPTP: Luận án xác định BPTP là biện pháp cưỡng chế hình sự do luật hình sự quy định, do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với cá nhân, pháp nhân thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt, khắc phục hậu quả, phục hồi quyền lợi bị xâm phạm và phòng ngừa tội phạm. Luận án phân tích 7 đặc tính cơ bản của BPTP:
    1. Mang tính cưỡng chế nhà nước về hình sự;
    2. Cơ sở áp dụng là hành vi nguy hiểm cho xã hội;
    3. Do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng theo trình tự luật định;
    4. Là một bộ phận cấu thành hoặc hình thức thực hiện của TNHS (hoặc áp dụng độc lập khi không truy cứu TNHS);
    5. Có tính phòng ngừa tội phạm và loại trừ điều kiện phạm tội;
    6. Góp phần khắc phục thiệt hại và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
    7. Có tính giáo dục, cải tạo và thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa.
  • Vai trò của BPTP: Đa dạng hóa các biện pháp xử lý hình sự; hỗ trợ hình phạt để giải quyết vụ án toàn diện; khắc phục triệt để các thiệt hại về tài sản, tinh thần do tội phạm gây ra.
  • Phân loại BPTP: Luận án xây dựng khung phân loại đa tiêu chí đối với các BPTP được quy định trong BLHS Việt Nam:
Tiêu chí phân loại Các nhóm biện pháp tư pháp cụ thể Căn cứ điều luật (BLHS 2015)
Theo đối tượng tác động - Tác động đến vật, tiền, tài sản: Tịch thu vật, tiền; trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại; khôi phục tình trạng ban đầu; khắc phục hậu quả.
- Tác động đến thân thể, tự do: Bắt buộc chữa bệnh; giáo dục tại trường giáo dưỡng.
- Tác động đến danh dự, nhân phẩm: Buộc công khai xin lỗi.
Điều 47, 48, 82

Điều 49, 96

Điều 48
Theo chủ thể bị áp dụng - Áp dụng đối với cá nhân phạm tội: Bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại trường giáo dưỡng.
- Áp dụng đối với pháp nhân thương mại: Buộc khôi phục tình trạng ban đầu, buộc thực hiện biện pháp khắc phục/ngăn chặn hậu quả.
- Áp dụng chung cho cả cá nhân và pháp nhân: Tịch thu vật/tiền, trả lại tài sản/bồi thường, buộc công khai xin lỗi.
Điều 49, 96

Điều 82

Điều 47, 48
Theo tính chất của hành vi - Áp dụng đối với hành vi cấu thành tội phạm: Tịch thu, bồi thường thiệt hại, giáo dục tại trường giáo dưỡng.
- Áp dụng đối với hành vi không cấu thành tội phạm: Bắt buộc chữa bệnh (người mất năng lực TNHS), trả lại tài sản (chưa đến mức truy cứu TNHS).
Điều 47, 48, 96

Điều 49, 48
Theo chủ thể có thẩm quyền áp dụng - Cả 3 cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, Tòa án): Tịch thu vật/tiền trực tiếp liên quan, bắt buộc chữa bệnh.
- Chỉ Tòa án áp dụng tại giai đoạn xét xử: Trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi, giáo dục tại trường giáo dưỡng, các BPTP đối với pháp nhân.
Điều 47, 49

Điều 48, 82, 96
Theo quan hệ với hình phạt - Hỗ trợ, áp dụng kèm theo hình phạt: Tịch thu, trả lại tài sản, bồi thường, các biện pháp đối với pháp nhân.
- Độc lập hoặc thay thế hình phạt: Bắt buộc chữa bệnh, giáo dục tại trường giáo dưỡng.
Điều 47, 48, 82

Điều 49, 96
  • Phân biệt BPTP với hình phạt:
Tiêu chí so sánh Hình phạt Biện pháp tư pháp
Tính chất, mức độ nghiêm khắc Là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước; tước bỏ hoặc hạn chế quyền cơ bản. Tính cưỡng chế linh hoạt hơn; chủ yếu mang tính hỗ trợ, phòng ngừa, phục hồi và điều trị.
Hậu quả pháp lý Người bị kết án chịu hậu quả án tích (trừ trường hợp miễn hình phạt hoặc người dưới 18 tuổi theo luật định). Không để lại án tích cho người bị áp dụng.
Giai đoạn và thẩm quyền áp dụng Chỉ do Tòa án nhân dân áp dụng bằng bản án kết tội có hiệu lực pháp luật. Tòa án áp dụng; một số biện pháp (tịch thu, chữa bệnh) có thể do CQĐT, VKS áp dụng trong các giai đoạn tố tụng.
Phạm vi áp dụng Quy định cụ thể cho từng tội danh và khung hình phạt nhất định. Áp dụng linh hoạt cho nhiều loại tội phạm hoặc hành vi nguy hiểm không cấu thành tội phạm.
  • Kinh nghiệm pháp luật quốc tế: Luận án phân tích hệ thống "đơn theo dõi" của Pháp (chỉ coi trọng hình phạt) và hệ thống "song song" của Đức (duy trì song song hình phạt và biện pháp an ninh/cải thiện). Luận án cũng khảo sát quy định về các biện pháp đối với pháp nhân tại Pháp, Montenegro và các biện pháp bảo vệ người chưa thành niên tại Thụy Sĩ, Đức.

Chương 2. Các biện pháp tư pháp theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng

Chương 2 đi sâu phân tích nội dung pháp lý thực định và số liệu thực tiễn:

  • Quy định của BLHS năm 2015:
    • Nhóm biện pháp áp dụng chung (Điều 47, 48, 49): Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi; Bắt buộc chữa bệnh (áp dụng ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án).
    • Nhóm biện pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội (Điều 82): Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; Buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra.
    • Nhóm biện pháp áp dụng riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 96): Giáo dục tại trường giáo dưỡng (thay thế hình phạt, áp dụng từ 01 năm đến 02 năm).
  • Thực tiễn áp dụng qua khảo sát 500 bản án (2008 - 2017):
    • Tần suất áp dụng: Các BPTP về tài sản (tịch thu vật/tiền, bồi thường thiệt hại, trả lại tài sản) chiếm tỷ lệ áp dụng cao nhất, tập trung ở các nhóm tội xâm phạm sở hữu, tội phạm kinh tế, môi trường và ma túy.
    • Vướng mắc thực tiễn: Một số Tòa án áp dụng chưa chính xác giữa hình phạt bổ sung (tịch thu tài sản, phạt tiền) với BPTP (tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan); nhầm lẫn giữa biện pháp bồi thường thiệt hại theo Điều 48 BLHS với tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (tự nguyện bồi thường theo Điều 51 BLHS); sự phối hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng và cơ sở giám định pháp y tâm thần trong áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh còn chậm trễ; công tác thi hành án dân sự đối với việc trả lại tài sản hoặc buộc công khai xin lỗi còn gặp nhiều vướng mắc về thủ tục.

Chương 3. Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng các biện pháp tư pháp

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp:

  • Giải pháp hoàn thiện pháp luật:
    • Bổ sung một điều luật định nghĩa khái quát về BPTP tại Phần thứ nhất của BLHS nhằm thống nhất nhận thức lý luận và thực định.
    • Sửa đổi, cụ thể hóa điều kiện và thủ tục áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự nhằm phân định rõ trách nhiệm của cơ sở y tế chuyên khoa.
    • Hoàn thiện các quy định về trình tự thi hành các BPTP áp dụng đối với pháp nhân thương mại, bảo đảm tính khả thi khi các bản án tuyên buộc khôi phục tình trạng ban đầu.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng:
    • Tăng cường tập huấn nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên để nhận thức đúng bản chất pháp lý của BPTP.
    • Xây dựng quy chế phối hợp liên ngành giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án hình sự, Cơ quan thi hành án dân sự, Ủy ban nhân dân cấp xã và ngành y tế.
    • Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, nhân lực cho các trường giáo dưỡng và cơ sở điều trị bệnh tâm thần phục vụ công tác thi hành BPTP.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Về mặt lý luận: Luận án hệ thống hóa và xây dựng cơ sở lý luận về chế định BPTP trong luật hình sự Việt Nam; đưa ra khái niệm khoa học, xác định rõ 7 đặc điểm bản chất và phân tích vai trò hỗ trợ, thay thế hình phạt của BPTP; xây dựng khung phân loại BPTP toàn diện theo 5 tiêu chí pháp lý.
  • Về mặt thực tiễn và lập pháp: Luận án đánh giá thực trạng áp dụng BPTP qua việc xử lý số liệu từ 500 bản án hình sự cấp tỉnh (2008 - 2017); chỉ rõ các bất cập trong mối quan hệ giữa BLHS với BLTTHS, Luật Thi hành án hình sự và Bộ luật Dân sự; đề xuất các kiến nghị cụ thể để sửa đổi BLHS, BLTTHS và xây dựng quy chế phối hợp liên ngành trong thi hành BPTP.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chỉ khảo sát thực tiễn áp dụng BPTP đối với cá nhân phạm tội qua 500 bản án; chưa thu thập và đánh giá được dữ liệu thực tiễn xét xử đối với pháp nhân thương mại phạm tội do BLHS năm 2015 mới có hiệu lực thi hành hơn 2 năm tại thời điểm nghiên cứu nên chưa có đủ số liệu thực tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, thu thập dữ liệu thực tiễn xét xử để đánh giá toàn diện hiệu quả áp dụng các BPTP đối với pháp nhân thương mại phạm tội; nghiên cứu sâu cơ chế giám sát thi hành các BPTP tại cộng đồng và cơ sở y tế chuyên khoa.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Luận án cung cấp hệ thống tài liệu chuyên khảo về lý luận chế định cưỡng chế hình sự, các bảng so sánh đối chiếu giữa BPTP và hình phạt, cùng hệ thống văn bản và kinh nghiệm lập pháp quốc tế (Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Áo, Rumani, Montenegro).
  • Đối với cơ quan lập pháp và cơ quan tiến hành tố tụng: Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện các quy định của BLHS, BLTTHS, Luật Thi hành án hình sự; đồng thời hỗ trợ Thẩm phán, Kiểm sát viên trong việc phân định chính xác BPTP với các chế tài khác khi giải quyết án hình sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao luận án không khảo sát thực tiễn áp dụng biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội? Tại thời điểm thực hiện nghiên cứu, BLHS năm 2015 mới có hiệu lực thi hành được hơn 2 năm. Thực tiễn xét xử trên cả nước hầu như có rất ít vụ án truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại, dẫn đến việc thiếu số liệu thống kê thực tế để khảo sát, phân tích.

2. Điểm giống nhau cơ bản giữa biện pháp tư pháp và hình phạt theo luận án là gì? Cả hai đều là các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước được quy định trong BLHS, do các cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm mục đích đấu tranh phòng, chống tội phạm và bảo vệ trật tự pháp luật.

3. BLHS năm 2015 quy định các nhóm biện pháp tư pháp nào theo đối tượng áp dụng? BLHS năm 2015 chia thành 3 nhóm: nhóm áp dụng chung cho mọi người phạm tội (Điều 47, 48, 49); nhóm áp dụng riêng đối với pháp nhân thương mại phạm tội (Điều 82); và nhóm áp dụng riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 96).

4. Mục đích phòng ngừa của biện pháp tư pháp được thể hiện như thế nào? Biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm triệt tiêu điều kiện vật chất của tội phạm; biện pháp bắt buộc chữa bệnh cách ly và điều trị người mắc bệnh nhằm loại trừ nguy cơ tiếp tục gây nguy hiểm cho xã hội; biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng giúp uốn nắn, cải tạo người dưới 18 tuổi trong môi trường kỷ luật.

5. Việc thi hành các biện pháp tư pháp hiện nay do các cơ quan nào đảm nhiệm? Việc thi hành do nhiều cơ quan phối hợp thực hiện tùy thuộc vào từng biện pháp cụ thể, bao gồm: cơ quan thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan công an, Ủy ban nhân dân cấp xã và các cơ sở khám chữa bệnh chuyên khoa.

Kết luận

Luận án "Chế định biện pháp tư pháp trong Luật hình sự Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn" đã phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận, lịch sử lập pháp và kinh nghiệm quốc tế về các biện pháp cưỡng chế hình sự ngoài hình phạt. Thông qua việc khảo sát 500 bản án giai đoạn 2008 - 2017, luận án đã chỉ ra các điểm bất cập trong luật thực định và thực tiễn phối hợp thi hành án. Các giải pháp hoàn thiện BLHS, BLTTHS và nâng cao năng lực áp dụng pháp luật được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn đối với công tác lập pháp cũng như hoạt động xét xử tại Việt Nam.