Chương 1: Cơ sở lý luận về đảm bảo QCN trong THAHS; Chương 2: Thực trạng đảm bảo QCN THAHS ở huyện An Dƣơng, TP Hải Phòng. Chương 3: Quan điểm và giải pháp đảm bảo QCN trong THAHS ở huyện An Dƣơng, TP Hải Phòng 8 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CON NGƢỜI TRONG THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ 1. Quyền con ngƣời và đảm bảo quyền con ngƣời trong thi hành án hình sự. Khái niệm quyền con người Quyền con ngƣời là một phạm trù rộng, đa dạng.
Tùy từng mục đích và phạm vi nghiên cứu mà hình thành nên những định nghĩa khác nhau về QCN. Mặc dù số lƣợng các định nghĩa về QCN rất lớn và mỗi định nghĩa đều mang trong mình ít nhiều khía cạnh đúng đắn nhƣng cho đến nay, trên thế giới vẫn chƣa có một khái niệm chính thống nào về QCN để làm chuẩn mực chung. Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông, quyền là "điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đƣợc đòi hỏi" [40]. Theo đó, QCN có thể đƣợc hiểu là những điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho mỗi con ngƣời đƣợc hƣởng, đƣợc làm, đƣợc đòi hỏi.
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý: Ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về QCN thƣờng đƣợc trích dẫn khi nghiên cứu về QCN. Theo đó, QCN là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự đƣợc phép và tự do cơ bản của con ngƣời [27, tr. Ở Việt Nam, một số luật gia trong quá trình nghiên cứu về QCN cũng đƣa ra một số quan điểm cá nhân về khái niệm QCN nhƣ: Theo TS. Trần Quang Tiệp: "QCN là những đặc lợi vốn có tự nhiên mà chỉ con ngƣời mới đƣợc hƣởng trong những điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định" [38, tr.
9 Luan van Quan điểm của PGS.TS Nguyễn Văn Động cho rằng: QCN là những giá trị quý báu đƣợc thừa nhận chung bởi toàn thế giới, đồng thời gắn bó chặt chẽ với sự tồn tại và phát triển của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc và cả cộng đồng quốc tế; QCN trực tiếp liên quan đến cá lĩnh vực sinh hoạt vật chất và tinh thần của con ngƣời và góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nhân cách, tính nhân đạo và nhân văn của con ngƣời; các QCN tạo thành một hệ thống thống nhất, quan hệ tác động lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau, đồng thời vừa là tiền đề, điều kiện của nhau, vừa là hệ quả của nhau [42, tr. Trên cơ sở tìm hiểu về vấn đề QCN, tổng hợp các khái niệm về QCN trên thế giới cũng nhƣ Việt Nam, tác giả luận văn hoàn toàn đồng tình với quan điềm của TSKH.GS Lê Cảm khi xây dựng khái niệm QCN. Theo đó, "QCN là một phạm trù lịch sử-cụ thể, là giá trị xã hội cao quý nhất đƣợc thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại và là đặc trƣng tự nhiên vốn có cần đƣợc tôn trọng và không thể bị tƣớc đoạt của bất kỳ cá nhân con ngƣời nào sinh ra trên trái đất, đồng thời phải đƣợc bảo vệ bằng pháp luật bởi các thành viên Liên hợp quốc cũng nhƣ bởi cộng đồng quốc tế" [6, tr. Khi xem xét nghiên cứu khái niệm QCN có một số vấn đề cần lƣu ý sau đây: Một là, việc sử dụng thuật ngữ "QCN" và "nhân quyền".
Có ý kiến cho rằng hai khái niệm này mang ý nghĩa khác nhau. Điều này thể hiện ở chỗ, "QCN" đƣợc hiểu là những tƣ tƣởng, quan điểm, nhận thức "của ta" còn "nhân quyền" đƣợc nhắc đến với nghĩa là luận điệu, âm mƣu, thủ đoạn "của địch". Tuy nhiên, theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông thì nhân quyền có nghĩa là QCN. Trong đó, nhân quyền là một từ Hán Việt còn QCN là một từ thuần Việt.
Nhƣ vậy, về mặt ngôn ngữ học, hai thuật ngữ này là từ đồng nghĩa nên hoàn toàn có thể sử dụng thay thế nhau. Hai là, phân biệt giữa khái niệm QCN và quyền công dân. Hai khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Bởi lẽ, quyền công dân là khái 10 Luan van niệm gắn liền với Nhà nƣớc, thể hiện mối quan hệ giữa nhà nƣớc và công dân (tức là những ngƣời mang quốc tịch của nƣớc đó).
Quyền công dân là những QCN đƣợc pháp luật ghi nhận và bảo hộ cho công dân của nƣớc họ. Điều này quy định nguồn gốc pháp định của quyền công dân. Trong khi đó QCN không bị bó hẹp trong quan hệ giữa nhà nƣớc và công dân mà thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng. Chủ thể của QCN là tất cả các thành viên của xã hội chứ không bó hẹp trong phạm vi những ngƣời mang quốc tịch của quốc gia nhất định.
Tuy nhiên để QCN mang giá trị hiện thực thì nó cũng cần đƣợc ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật quốc tế và quốc gia. Các quyền của con ngƣời là những giá trị xã hội đƣợc con ngƣời nhận thức, thừa nhận và dần đƣợc thể chế hóa trong các văn kiện quốc tế về QCN và đƣợc các quốc gia thừa nhận, cam kết thực hiện. Các quyền công dân là hình thức pháp lý, biểu hiện cụ thể của QCN đƣợc pháp luật của quốc gia ghi nhận. Tuy vậy, không đồng nhất giữa QCN và quyền công dân, không đồng nhất giữa các giá trị.
QCN là những giá trị mà cộng đồng quốc tế nhận thức, thừa nhận, còn quyền công dân chỉ là nhận thức và thừa nhận của một quốc gia cụ thể. Vì vậy, không ít những trƣờng hợp giữa QCN và quyền công dân vẫn có những khoảng cách nhất định. Khái niệm quyền con người trong thi hành án hình sự Trƣớc khi tìm hiểu về QCN trong THAHS chúng ta cần xác định khái niệm và phạm vi, đối tƣợng của hoạt động THAHS. Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định các bản án, quyết định của TAND có hiệu lực pháp luật phải đƣợc cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
Yêu cầu mang tính nguyên tắc hiến định này đã khẳng định tính hiệu lực của các phán quyết của Tòa án, đồng thời khẳng định ý nghĩa rất quan trọng của thi hành án nói chung và THAHS nói riêng. THAHS có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết vụ án, vì nếu vụ án sau khi đƣợc xét xử mà không mang ra thi hành thì 11 Luan van công lý không đƣợc thực thi, quyền tƣ pháp, quyền uy của Toà án và hệ thống tƣ pháp không đƣợc đảm bảo, ý nghĩa trừng trị hay giáo dục của pháp luật hình sự không còn nữa. THAHS không chỉ trừng trị ngƣời phạm tội mà còn cải tạo, giáo dục họ trở thành ngƣời có ích cho xã hội, khi họ tái hòa nhập với xã hội không tiếp tục phạm tội mới. Dù có những tranh luận về việc THAHS có phải là một giai đoạn của tố tụng hình sự hay không, nhƣng THAHS có nhiệm vụ hiện thực hóa bản án kết tội của Tòa án vào trong thực tế và bản án chính là căn cứ để tiến hành hoạt động THAHS.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nếu khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử - tất cả đều hƣớng đến một phán quyết đúng đắn của Tòa án thì THAHS lại nhằm mục đích thực hiện nội dung các phán quyết đó của Tòa án. THAHS có mối quan hệ biện chứng giữa quá trình tố tụng hình sự, không có tố tụng thì không có thi hành án và ngƣợc lại không có thi hành án thì tố tụng trở nên vô nghĩa [50, tr. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, thi hành là: "Thực hiện điều đã chính thức quyết định" [51, tr. Nhƣ vậy, thi hành án có thể đƣợc hiểu là thực hiện bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế; còn THAHS là thực hiện các bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trên thực tế [38, tr.
THAHS là một hoạt động mang tính hành chính - tƣ pháp hình sự vì nó có những đặc thù riêng khác với hoạt động tố tụng hình sự [49, tr. THAHS là hoạt động mang tính điều hành và chấp hành theo đặc trƣng của quản lý hành chính. THAHS còn sử dụng phƣơng pháp thuyết phục giáo dục và kết hợp mệnh lệnh hành chính. Việc thi hành án có liên hệ với chính quyền địa phƣơng, theo thủ tục hành chính nhƣ trƣờng hợp thi hành án treo, cải tạo không giam giữ thì ngƣời chấp hành án treo, cải tạo không giam giữ đƣợc giao về Ủy ban nhân dân phƣờng, xã nơi ngƣời chấp hành án cƣ trú để theo dõi, giám sát, giáo dục.
Phạm vi của THAHS bao gồm thi hành bản án, quyết định về hình phạt tù, tử hình, cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, cấm cƣ trú, quản chế, trục xuất, 12 Luan van tƣớc một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, án treo, biện pháp tƣ pháp. Theo đó, khoản 3, 5, 6 Điều 3 Luật THAHS năm 2010 giải thích: Thi hành án phạt tù là việc cơ quan, ngƣời có thẩm quyền theo quy định của Luật này buộc phạm nhân phải chịu sự quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo để họ trở thành ngƣời có ích cho xã hội. Thi hành án treo là việc cơ quan, ngƣời có thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục ngƣời bị phạt tù đƣợc hƣởng án treo trong thời gian thử thách. Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là việc cơ quan, ngƣời có thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục ngƣời chấp hành án tại xã, phƣờng, thị trấn và khấu trừ thu nhập sung quỹ nhà nƣớc theo bản án đã có hiệu lực pháp luật [34].