Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGUYÊN TẮC HAI CẤP XÉT XỬ TRONG LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI 1. Khái niệm, đặc điểm và nội dung quyền con người 1. Khái niệm quyền con người Quyền con người là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý. Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo những góc độ khác nhau.
Một định nghĩa rất phổ biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo học thuyết quyền tự nhiên là: “Quyền con người là những quyền cơ bản, không thể tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người” [53]. Ở góc độ khái quát nhất, theo khái niệm của Liên hợp quốc có thể hiểu là: “Những gì bẩm sinh, vốn có của con người mà nếu không được bảo đảm thì chúng ta sẽ không thể sống như một con người” [54]. Ở Việt Nam, bên cạnh thuật ngữ “Quyền con người”, còn có thuật ngữ “Nhân quyền”. Cả hai thuật ngữ này đều bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Anh “Human rights”, mà nếu dịch trực tiếp sang tiếng Việt là quyền con người; còn nếu dịch qua Hán Việt là nhân quyền.
Xét về mặt ngôn ngữ học, theo Đại Từ điển tiếng Việt, quyền con người và nhân quyền là hai từ đồng nghĩa [52]. Một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là: “Những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”. Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của 7 z toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người. Thuật ngữ quyền con người theo Học thuyết Mác – Lênin là một chỉnh thể thống nhất thể hiện những tư tưởng nhân văn chân chính nhất của loài người, là sự kế thừa một cách biện chứng những giá trị tinh hoa của con người.Mác đã xuất phát từ con người là một thực thể thống nhất, một “Sinh vật – Xã hội”.
Do đó, quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa “Quyền tự nhiên” là một đặc quyền vốn có và chỉ con người mới có và “Quyền xã hội” là sự chế định bằng các quy chế pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội [1]. Các đặc điểm cơ bản của quyền con người Quyền con người có một số đặc điểm cơ bản, các đặc điểm này thể hiện tính phổ biến của nó ở mọi quốc gia không phụ thuộc vào chế độ chính trị kinh tế của họ. Trong khoa học pháp lý và các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền con người, người ta thường nói tới các đặc điểm cơ bản sau về quyền con người, cụ thể như sau: Một là, tính không thể tước đoạt. Quyền con người không thể bị tước đoạt một cách tùy tiện trừ trường hợp sự tước đoạt đó nhằm bảo vệ các quyền con người của người khác do hành vi vi phạm pháp luật của người bị tước đoạt.
Hai là, tính không thể phân chia của quyền con người. Quyền con người là tổng thể các quyền và tự do của con người, gắn bó với nhau, trong đó không có quyền nào quan trọng hơn quyền nào. Vấn đề bảo vệ quyền con người ở đây là nếu chúng ta quan tâm thích đáng đến một nhóm đối tượng riêng biệt (Phụ nữ, trẻ em…) vì các đối tượng này thường là nạn nhân của sự vi phạm quyền con người vì các yếu tố khách quan như truyền thống văn hóa hoặc các yếu tố sức khỏe. Ba là, tính liên hệ và phụ thuộc.
Tính chất này thể hiện ở chỗ các quyền con người không tồn tại một cách biệt lập mà tồn tại trong tổng thể và trong đó các quyền này là điều kiện để đảm bảo các quyền khác và ngược lại. Chính 8 z vì vậy, việc đảm bảo các quyền con người phải được tiến hành một cách tổng thể, không thể chỉ chú ý đến quyền này mà bỏ các quyền khác. Bởi lẽ, các quyền con người đều rất cần thiết cho sự phát triển toàn diện của con người và việc bảo đảm các quyền này hỗ trợ cho việc bảo đảm các quyền khác [15]. Ngoài các đặc điểm cơ bản kể trên, quyền con người còn có một số đặc điểm khác như: Quyền con người được xây dựng trên cơ sở tôn trọng nhân phẩm và giá trị của mỗi cá nhân; Quyền con người đặt ra nghĩa vụ của các chủ thể khác và buộc tất cả phải tôn trọng; Quyền con người không chỉ được bảo vệ bằng pháp luật quốc gia mà còn được bảo vệ bằng pháp luật quốc tế.
Nội dung quyền con người Trong Nhà nước pháp quyền, các quyền con người được pháp luật bảo đảm thực hiện và được bảo vệ không bị xâm phạm. Bảo đảm quyền con người không chỉ là nội dung, bản chất mà còn trở thành mục tiêu cao nhất trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Với mục tiêu của sự nghiệp cách mạng là giải phóng con người, vì vậy, quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam là bảo vệ quyền con người, giải phóng con người khỏi áp bức, bóc lột, bất công, đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho mỗi người. Sau đây là một số nội dung chính thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người.
Quyền con người là giá trị chung của toàn nhân loại. Trong Chỉ thị số 12CT/TW ngày 12 tháng 7 năm 1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã khẳng định: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới, và cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại” [2]. Trong xã hội có phân chia giai cấp, quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc. Mặc dù xét về bản chất, quyền con người là những giá trị chung của 9 z toàn nhân loại, là kết tinh của quá trình lịch sử lâu dài, nhưng trên thực tế, đây là một vấn đề mang tính chính trị và bị chính trị hóa.
Do đó, việc giải thích và áp dụng quyền con người thường thể hiện sự khác biệt về ý thức hệ. Về vấn đề này, Chỉ thị số 41/2004/CTTTg ngày 02/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ khẳng định: “… Cuộc đấu tranh trên vấn đề quyền con người là cuộc đấu tranh mang tính giai cấp sâu sắc, sẽ diễn ra liên tục, lâu dài và quyết liệt” [42]. Quyền con người thống nhất với quyền dân tộc cơ bản. Từ thực tiễn đấu tranh giữ gìn độc lập đất nước, Đảng rút ra bài học kinh nghiệm rằng sự nghiệp giải phóng con người có mối liên hệ chặt chẽ với sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Một khi đất nước bị mất độc lập thì quyền con người không bao giờ được thực thi và bảo đảm. Trong Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ VIII (từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941) về tổ chức Việt Minh, Nguyễn Ái Quốc viết: Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được [40]. Quyền con người vừa có tính phổ biến, vừa có tính đặc thù, phụ thuộc vào truyền thống, đặc điểm và trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia.
Về vấn đề này, Các Mác từng viết: “Quyền không bao giờ có thể ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển văn hóa của xã hội do chế độ kinh tế quyết định [28]. Theo Chỉ thị số 12CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, quyền con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước. Do vậy, không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho các nước 10 z khác. Sách trắng Thành tựu bảo vệ và phát triển quyền con người ở Việt Nam cũng khẳng định: Quyền con người vừa mang tính phổ biến, thể hiện khát vọng chung của nhân loại, được ghi trong Hiến chương của Liên hợp quốc, vừa có tính đặc thù đối với từng xã hội và cộng đồng…”.
Do đó, “Khi tiếp cận và xử lý vấn đề quyền con người cần kết hợp hài hòa các chuẩn mực, nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế với những điều kiện đặc thù về lịch sử, chính trị, kinh tế xã hội, các giá trị văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán của mỗi quốc gia và khu vực. Không một nước nào có quyền áp đặt mô hình chính trị, kinh tế, văn hóa của mình cho một quốc gia khác [2]. Quyền con người thể hiện trong quyền công dân và được pháp luật bảo hộ. Quyền con người muốn được hiện thực hóa phải được quy định cụ thể trong pháp luật, nếu không, nó chỉ mang ý nghĩa hô hào, không có ý nghĩa thực tế.
Pháp luật là phương tiện để ghi nhận và hiện thực hóa các quyền con người. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng xác định: “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người…”. Trong Hiến pháp năm 2013, Nhà nước Việt Nam đã ghi nhận một cách một cách đầy đủ và trang trọng các quyền con người, phù hợp với các chuẩn mực của luật pháp quốc tế. Quyền không tách rời nghĩa vụ.
Trong “Điều lệ tạm thời của Hội liên hiệp công nhân quốc tế năm 1864”, Các Mác đã chỉ rõ mối liên hệ giữa quyền và nghĩa vụ: “Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi”.