Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ BẮT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái nhiệm, đặc điểm người bị bắt và giai đoạn điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm, đặc điểm người bị bắt Bắt người là một trong những hình thức thể hiện của biện pháp ngăn chặn. Bắt có tính chất kh i đầu cho việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tiếp theo.
Bắt là một trong những biện pháp ngăn chặn có tính cưỡng chế nghiêm khắc, vì vậy việc bắt nhất thiết phải tuân thủ các căn cứ, trình tự, thủ tục theo pháp luật quy định. Bắt là biện pháp ngăn chặn nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trốn tránh pháp luật, nhằm tạo điều kiện bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án được thuận lợi. Bắt người là biện pháp ngăn chặn mang tính đặc thù thường được áp dụng liền trước các biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam. Biện pháp ngăn chặn này làm hạn chế một số quyền tự do của cá nhân người bị bắt, buộc họ phải có mặt tại địa điểm quy định để làm việc với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán.
Biện pháp bắt người được tính từ thời điểm người có chức vụ theo luật định ra lệnh bắt đến khi kết thúc là người bị bắt được dẫn giải đến nơi để tạm giữ, tạm giam. Như vậy, việc bắt người là một hoạt động mang tính chất nghiệp vụ, tố tụng của các cơ quan, cá nhân được BLTTHS trao quyền thực hiện việc này. Do đó, hoạt động bắt người mang tính thời điểm, việc kiểm tra, giám sát để tránh tình trạng xâm phạm tới quyền 8 z con người của chủ thể bị áp dụng thường khó khăn hơn các biện pháp tạm giữ, tạm giam. Trước khi tìm hiểu về khái niệm người bị bắt, chúng ta cùng tìm hiểu về khái niệm bắt người - với tư cách là một biện pháp ngăn chặn trong TTHS.
Bắt hiểu theo nghĩa rộng: Bắt không phải là biện pháp trừng phạt của pháp luật đối với người phạm tội mà là biện pháp ngăn chặn của hoạt động TTHS. Bắt đúng người, bắt kịp thời có tác dụng ngăn chặn mọi âm mưu và thủ đoạn chống đối của người phạm tội, không cho họ tiếp tục phạm tội, che giấu, trốn tránh hoặc gây khó khăn cho việc xác định sự thật để giải quyết vụ án. Bắt hiểu theo nghĩa hẹp: Đối với cá nhân người bị bắt là sự hạn chế một số quyền tự do của cá nhân, là điểm kh i đầu sự trừng phạt củapháp luật nếu người đó là người thực hiện hành vi phạm tội, b i vì khi thi hành án, thời gian tạm giữ, tạm giam được khấu trừ vào thời gian thi hành án. Bắt không theo quy định của pháp luật: bắt nhầm (bắt oan, sai) người vô tội sẽ gây một tác hại rất lớn, không những các quy định của pháp luật bị vi phạm, mà quyền bất khả xâm phạm của con người bị xâm hại, ảnh hư ng đến quyền lợi của công dân được pháp luật bảo hộ.
Điều này dẫn đến việc, yêu cầu bảo đảm quyền con người của người bị bắt là rất cần thiết. B i lẽ người bị bắt trong TTHS thường có nguy cơ cao bị xâm phạm tới các quyền con người cơ bản trong đó có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Từ đó việc bắt người trái pháp luật ảnh hư ng xấu đến lòng tin của nhân dân đối với cơ quan bảo vệ pháp luật, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng chiêu bài nhân quyền để chống phá Nhà nước ta. Vì vậy, khi bắt người phải thể hiện thái độ kiên quyết đấu tranh chống tội phạm, song cũng phải thận trọng khi xem xét đánh giá chứng cứ.
Quá trình thực hiện BLTTHS các cơ 9 z quan tư pháp như: Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Bộ Tư pháp, đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật đơn ngành, liên ngành để hướng dẫn việc áp dụng BPNC trong đó có biện pháp bắt. Nhằm mục đích đấu tranh có hiệu quả với tội phạm, tăng cường pháp chế XHCN, thực hiện mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật cũng như đảm bảo các quyền tự do dân chủ của công dân, BLTTHS quy định ba trường hợp bắt, đó là: - Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; - Bắt người trong trường hợp khẩn cấp; - Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã [28]. Các trường hợp nêu trên là quy định chung để khi có căn cứ thuộc trường hợp nào thì cơ quan, người có thẩm quyền do luật định có thể áp dụng. Song căn cứ vào Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND), các quy định đối với người chưa thành niên, các quy định đối với người phạm tội là người nước ngoài, khi chủ thể thuộc các đối tượng này còn phải vận dụng thêm các quy định mang tính cá biệt để áp dụng BPNC cũng như áp dụng các quy định trong BLTTHS được đúng đắn.
Việc áp dụng các biện pháp bắt cũng phải quán triệt các nguyên tắc chung, các chủ trương, đường lối chỉ đạo của Đảng và Nhà nước trong mỗi giai đoạn xây dựng và phát triển nền kinh tế - xã hội của đất nước ta. Từ những phân tích trên, theo chúng tôi, có thể tóm tắt khái niệm về biện pháp bắt trong TTHS như sau: Bắt người là một biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo, người đang bị truy nã và những trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm 10 z tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Tiếp theo chúng ta đi tìm hiểu về khái niệm người bị bắt. Khái niệm này được xây dựng dựa trên cơ s của khái niệm biện pháp ngăn chặn bắt người.
Người bị bắt là chủ thể bị các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc các chủ thể khác theo quy định của BLTTHS áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người thuộc một trong ba trường hợp: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt người trong trường hợp khẩn cấp; Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã. Theo đó, có thể hiểu khái niệm người bị bắt nói chung là người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người do các chủ thể được quy định trong BLTTHS hình sự tiến hành theo thủ tục được pháp luật quy định. Hiện nay BLTTHS chưa quy định khái niệm người bị bắt mà chỉ quy định các trường hợp bắt người, đồng thời cũng đưa ra khái niệm người bị tạm giữ. Theo quy định của Điều 48 BLTTHS thì: Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ [28].
Điều này có nghĩa, các trường hợp người bị bắt sau đó chuyển hóa thành tư cách tố tụng của người bị tạm giữ, b i lẽ người bị tạm giữ sau khi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt quả tang, bắt đang bị truy nã, bắt khẩn cấp và có quyết định tạm giữ thì tr thành chủ thể tố tụng này. Nghiên cứu giai đoạn điều tra vụ án hình sự ta thấy, giai đoạn điều tra được xác định từ khi có quyết định kh i tố vụ án hình sự cho đến khi hoặc là có quyết định kết luận điều tra, đề nghị truy tố, hoặc kết luận điều tra, đình chỉ vụ án. Như vậy trong giai đoạn điều tra chỉ có sự xuất hiện của người có những tư cách tố tụng là người bị tạm giữ hoặc bị can mà không có người có tư cách bị cáo. B i lẽ theo Điều 50 BLTTHS thì: Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.
Như vậy, đối với người bị bắt trong giai đoạn điều 11 z tra chỉ có thể là những người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt đối với các trường hợp bắt khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã và bắt bị can để tạm giam mà không thể có trường hợp bắt bị cáo để tạm giam. Một điều lưu ý là riêng đối với trường hợp bắt người đang bị truy nã, bắt bị can để tạm giam, bắt khẩn cấp, bắt quả tang có thể có cả trong các giai đoạn tố tụng khác như giai đoạn kh i tố, truy tố trong TTHS. Do đó, cần phải phân biệt các trường hợp này với trường hợp bắt người trong giai đoạn điều tra, để từ đó xác định đúng nội dung bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong giai đoạn điều tra. Thực tiễn hiện nay đa số biện pháp bắt người đều được tiến hành trong giai đoạn điều tra.
Nghiên cứu bắt người trong giai đoạn này có những ý nghĩa rất quan trọng trong đảm bảo quyền con người của người bị bắt. Từ những phân tích về khái niệm bắt người trong TTHS và khái niệm giai đoạn điều tra trong TTHS, chúng ta có thể rút ra khái niệm về người bị bắt trong giai đoạn điều tra như sau: Người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là người bị các cơ quan điều tra hoặc các cơ quan khác được giao thẩm quyền điều tra theo quy định của BLTTHS áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người trong trường hợp họ là bị can trong vụ án hoặc họ là người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng hoặc có hành vi phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã khi có căn cứ do BLTTHS quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc bị can gây khó khăn cho việc điều tra, vụ án hình sự. Từ khái niệm trên về người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ta có thể rút ra các đặc điểm sau về người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. 12 z Thứ nhất, người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người.
Biện pháp này được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, với các điều kiện về căn cứ bắt, chủ thể bắt, thủ tục bắt rất chặt chẽ.