Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIAM TRƯỚC KHI XÉT XỬ 1. Khái niệm về quyền của người bị tạm giam trước khi xét xử 1. Khái niệm người bị tạm giam và quyền của người bị tạm giam 1. Khái niệm người bị tạm giam Tạm giam là một trọng các biện pháp ngăn chặn của TTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội đưa ra định nghĩa về biện pháp tạm giam như sau: Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt trên hai năm tù và có những căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội [7, tr. Theo định nghĩa trên thì biện pháp tạm giam có mục đích ngăn chặn tội phạm và tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng. Luật TTHS quy định căn cứ, thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Tạm giam là một biện pháp ngăn chặn có tính chất cưỡng chế cao, thể hiện: Thứ nhất, tạm giam là sự cưỡng chế của Nhà nước, tước quyền tự do thân thể của bị can, bị cáo nhằm ngăn chặn việc người đó trốn, cản trở điều tra truy tố xét xử hoặc tiếp tục phạm tội mới cũng như nhằm đảm bảo thi hành án; Thứ hai, tạm giam được thực hiện bởi sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước bắt buộc người bị áp dụng phải chấp hành.
Nhà nước ban hành các quy định về tạm giam và đảm bảo cho các quy phạm đó được thực hiện; Thứ ba, tạm giam chỉ được áp dụng với bị can, bị cáo trong các trường hợp nhất định; Thứ tư, tạm giam hạn chế một số quyền của công dân đối với người bị áp dụng như: quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do đi lại, quyền bầu cử, ứng cử… Như vậy, có thể thấy rằng tạm giam là biện pháp 8 z ngăn chặn nghiêm khắc nhất so với các biện pháp ngăn chặn khác. Nhưng tạm giam khác với hình phạt. Hình phạt do Toà án quyết định áp dụng đối với người phạm tội được tuyên trong bản án, đây là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất nhằm tước bỏ, hạn chế quyền của người phạm tội, trừng trị giáo dục họ góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ chế độ trật tự xã hội cũng như các quyền lợi hợp pháp của công dân. Người phải chịu hình phạt là người có tội, hậu quả của việc áp dụng hình phạt là người phạm tội phải mang án tích.
Dù có cùng tính chất như tạm giữ nhưng tạm giam nghiêm khắc hơn. Đối tượng bị áp dụng biện pháp này chỉ có thể là bị can bị cáo, thời hạn tạm giam tương đối dài có thể vài tháng thậm chí hàng năm. Tạm giữ chỉ có thể được áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang với thời gian ngắn, tối đa không quá 9 ngày. Theo quy định của Khoản 1, Điều 70 BLTTHS 2003 thì Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong trường hợp sau đây: - Bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng - Bị can, bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng mà Bộ luật quy định hình phạt đối với tội đó là trên 2 năm tù và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội [30, Điều 70, Khoản 1].
Như vậy, người có thể bị tạm giam phải là bị can, bị cáo (người đã bị khởi tố hình sự, người bị truy tố, người bị quyết định đưa ra xét xử tại tòa án). Những người chưa bị khởi tố hình sự thì không được áp dụng biện pháp ngăn chặn này đối với họ. Ngoài ra, theo quy định của BLTTHS biện pháp ngăn chặn tạm giam còn có thể được áp dụng đối với người bị bắt khi đang bị truy nã, đây có thể là bị can, bị cáo cũng có thể là người đang chấp hành hình phạt nhưng bỏ trốn, lúc này tạm giam sẽ được áp dụng khi có quan điều tra nhận được người bị truy nã cho đến khi cơ quan ra lệnh truy nã đến nhận. Biện pháp ngăn chặn tạm giam được áp dụng đối với bị can, bị cáo, nhưng không phải bị can, bị cáo nào cũng bị áp dụng biện pháp pháp ngăn chặn này mà chỉ khi họ phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc các tội phạm khác mà luật hình sự quy định trên 2 năm tù và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội.
9 z Đối với một số trường hợp đặc biệt, tuy bị can, bị cáo có đủ căn cứ nêu trên trên nhưng không áp dụng tạm giam đối với họ do pháp luật TTHS thể hiện tính nhân đạo. Theo quy định của BLTTHS 2003 thì các đối tượng đó là: phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người già yếu (người già yếu là người trên 70 tuổi hoặc trên 60 tuổi và thường xuyên ốm đau), người bị bệnh nặng (người bị bệnh nặng là người đang mắc bệnh hiểm nghèo làm cho người đó bị suy kiệt nặng mà không được cứu chữa kịp thời thì sẽ có thể nguy hiểm tới tính mạng), những người này phải có nơi cư trú rõ ràng. Chỉ tạm giam những người này trong trường hợp đặc biệt như họ phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia họ là đối tượng lưu manh côn đồ và trong các vụ án phức tạp nếu để họ tại ngoại thì không thể điều tra truy tố, xét xử được [30, Điều 88, Khoản 2]. Đối với bị can bị cáo là người chưa thành niên thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, họ chỉ có thể bị tạm giam khi họ phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng.
Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ có thể bị tạm giam khi họ phạm tội nghiêm trọng do cố ý, tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng [30, Điều 273, Khoản 2]. Vấn đề đặt ra đối với việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với các trường hợp đặc biệt này là phải kiểm tra kỹ sức khoẻ, xác định đúng tuổi chịu trách nhiệm của họ. Bị can, bị cáo bị tạm giam có các quyền và nghĩa vụ tố tụng do Luật TTHS quy định nhằm bảo đảm để họ chấp hành nghiêm chỉnh quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, đồng thời để họ thực hiện các quyền khi bảo vệ các lợi hợp pháp của mình trước các cơ quan tiến hành tố tụng. Luật TTHS quy định biện pháp ngăn chặn tạm giam và những bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp này được gọi là “người bị tạm giam” chứ không phải là “người bị giam”, do biện pháp này được áp dụng khi bị can, bị cáo chưa phải là người phạm tội theo quy định của pháp luật.
Nếu ở giai đoạn xét xử tòa tuyên bị cáo không phạm tội thì họ được coi là người bị oan và được bồi thường thiệt hại về những hậu quả do bị áp dụng biện pháp tạm giam. Trong trường hợp bị can, bị cáo bị tòa án kết án thì số ngày bị tạm giam được khấu trừ vào thời hạn chấp hành hình 10 z phạt với nguyên tắc 1 ngày bị tạm giam bằng 1 ngày tù và 3 ngày đối với hình phạt cải tạo không giam giữ [30, Điều 33]. Từ sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về người bị tạm giam trong TTHS như sau: Người bị tạm giam là bị can, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm khác mà luật hình sự quy định hình phạt trên hai năm tù và có căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục phạm tội bị các cơ quan tiến hành TTHS có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp tạm giam theo trình tự, thủ tục của luật TTHS. Khái niệm quyền của người bị tạm giam Bị can, bị cáo bị tạm giam được pháp luật quy định cho họ những quyền với mục đích bảo đảm quyền con người của họ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Quyền con người của người bị tạm trong TTHS là quyền của nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội. Người bị tạm giam khi tham gia vào các hoạt động TTHS, với tư cách là người bị buộc tội thì họ vẫn được pháp luật bảo vệ và tôn trọng những quyền cơ bản thiết thân của con người. Khi bình luận về quyền của nhóm người yếu thế trong đó có người bị tạm giam, giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội có nhận xét: Mặc dù họ là những đối tượng bị hoặc có khả năng bị áp dụng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất là trách nhiệm hình sự nhưng những quyền cơ bản, thiết thân nhất như: quyền được tôn trọng về nhân phẩm, quyền không bị tra tấn, đánh đập khi bị giam giữ, bị chấp hành án phạt tù… và những quyền tư pháp để được xét xử công bằng, để được điều tra khách quan trong quá trình tố tụng…vẫn phải được tôn trọng và bảo đảm [7, tr. Quyền con người của người bị tạm giam được ghi nhận trong các văn bản pháp luật là tiền đề để quyền con người được bảo đảm thực thi trong đời sống.
Thông qua các quy định của Luật TTHS, Nhà nước trao cho cho người bị tạm giam những phương tiện cần thiết để bảo vệ các quyền của mình và thiết lập các cơ chế để giải quyết cũng như đảm bảo các quyền của người bị tạm giam. Các quyền này, khi được pháp luật TTHS quy định, tức là đã được Nhà nước chính thức thừa nhận người bị 11 z tạm giam có các quyền tố tụng nhất định mà bất kỳ ai trong xã hội cũng đều phải tôn trọng. Người bị tạm giam khi thực hiện quyền của mình đồng thời cũng phải có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, tôn trọng và không được vi phạm các thủ tục tố tụng.