Tổng quan luận án

Tố tụng hình sự là lĩnh vực hoạt động tư pháp đặc thù, mang đậm tính quyền lực nhà nước với việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế có khả năng tác động trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người như quyền sống, quyền tự do, danh dự, nhân phẩm và tài sản. Trong tương quan với hệ thống tư pháp nhà nước, người bị buộc tội luôn thuộc nhóm đối tượng yếu thế. Giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng mà khả năng và nhu cầu áp dụng các biện pháp cưỡng chế mang tính phổ biến, trong khi cơ chế tranh tụng giữa các bên còn bị hạn chế. Do đó, việc bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn này là vấn đề thiết yếu, phản ánh trực tiếp mức độ dân chủ và nhân đạo của hệ thống pháp luật tố tụng hình sự.

Tại Việt Nam, quá trình thể chế hóa Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và triển khai Hiến pháp năm 2013 (đặc biệt là Điều 3 và Điều 31) đã dẫn đến việc ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 với nhiều quy định mở rộng quyền của người bị buộc tội. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành vẫn còn thiếu vắng một số tiêu chí theo chuẩn mực quốc tế về nhân quyền, trình tự thủ tục điều tra chưa đủ chặt chẽ, chế tài xử lý vi phạm quyền con người chưa cụ thể. Thực tiễn áp dụng từ năm 2009 đến năm 2018 cho thấy vẫn còn tồn tại các hiện tượng lạm dụng tạm giam, quá hạn tạm giữ, bức cung, nhục hình. Luận án tiến sĩ luật học "Bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự" của tác giả Trần Thị Thu Hiền (chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự, mã số 9380104, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2020) được thực hiện nhằm giải quyết các khoảng trống lý luận và thực tiễn này.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng hệ thống lý luận về bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận chung nhằm xác định khái niệm, cơ sở, ý nghĩa và các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
  2. Phân tích quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành, khảo sát và đánh giá thực trạng thực hiện kèm số liệu cụ thể, làm rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm tăng cường bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

Luận án đặt ra 6 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra gồm những quyền gì? Những chủ thể nào có trách nhiệm bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra và bảo đảm như thế nào? Nhận thức như thế nào về bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự? Nội dung, mục đích của bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là gì?
  2. Cơ sở nào để bảo đảm quyền con người của bị can? Bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có ý nghĩa gì trong đời sống xã hội?
  3. Để bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự cần có những điều kiện gì?
  4. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định như thế nào về bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự?
  5. Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự được thể hiện như thế nào?
  6. Các giải pháp chung, lâu dài và các giải pháp cụ thể, trước mắt cần được áp dụng để tăng cường bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ở Việt Nam? Cần triển khai ra sao?

Giả thuyết nghiên cứu của luận án xác định: Bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự trong tố tụng hình sự Việt Nam còn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế trên cả phương diện nhận thức, quy định pháp luật và thực tiễn thi hành. Tình trạng này có thể được giải quyết thông qua việc hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về quyền của bị can và tiến hành các biện pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm trên thực tế.

Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

Phạm vi nghiên cứu được xác định:

  • Về nội dung và góc độ tiếp cận: Tiếp cận dưới góc độ khoa học luật tố tụng hình sự đối với bị can là cá nhân.
  • Về không gian: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành trên phạm vi toàn quốc (luận án không khảo sát số liệu liên quan đến bị can thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân).
  • Về thời gian: Khảo sát số liệu thực tiễn trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo các nhóm vấn đề cụ thể:

Nhóm nghiên cứu trong nước về lý luận quyền con người và bảo đảm quyền con người trong tư pháp hình sự:

  • Các nghiên cứu lý luận chung về quyền con người: Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người (Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng đồng chủ biên, 2014); Bảo vệ quyền con người trong Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trần Quang Tiệp, 2004); Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam (Nguyễn Văn Động, 2005); sách chuyên khảo Quyền con người (Võ Khánh Vinh chủ biên, 2010); sách chuyên khảo Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con người (Võ Khánh Vinh chủ biên, 2011); công trình của Lê Văn Cảm (2010) và luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Mạnh (1995).
  • Nghiên cứu quyền con người trong tố tụng hình sự: Sách chuyên khảo Quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự (Nguyễn Ngọc Chí, 2015); Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Lê Hữu Thể chủ nhiệm (2011); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Quang Hiền (2008), Nguyễn Huy Hoàn (2005); các bài viết, báo cáo khoa học của Nguyễn Thái Phúc (2010), Nguyễn Tiến Đạt, Đỗ Thị Phượng (2011), Lê Tiến Châu (2008), Phạm Quang Phúc (2010), Trần Văn Độ (2010).
  • Nghiên cứu về quyền của bị can, người bị buộc tội: Luận án tiến sĩ của Lại Văn Trình (2011), Nguyễn Hữu Hậu (2019), Nguyễn Sơn Hà; sách chuyên khảo của Trần Quang Tiệp (2009); sách so sánh luật học của Ngũ Quang Hồng (2011).
  • Nghiên cứu về các quyền cụ thể của bị can: Về quyền bào chữa có các công trình của Phạm Hồng Hải (1999), Hoàng Thị Minh Sơn (2000, 2002), Nguyễn Văn Trượng (2009), Lương Thị Mỹ Quỳnh (2013); về nguyên tắc suy đoán vô tội có nghiên cứu của Nguyễn Thành Long (2011), Nguyễn Tất Thành (2016), Võ Thị Kim Oanh và Đinh Văn Đoàn (2013), Vũ Công Giao và Nguyễn Minh Tâm (2015); về quyền không tự buộc tội/quyền im lặng có bài viết của Đào Trí Úc (2015), Nguyễn Văn Hương (2015), Lê Huỳnh Tấn Duy (2015), Nguyễn Chiến (2015); về bồi thường thiệt hại và minh oan có công trình của Nguyễn Văn Tuân (2009), Nguyễn Ngọc Chí (2010).

Nhóm nghiên cứu quốc tế về quyền con người của người bị buộc tội:

  • Các công trình lý thuyết và cơ chế bảo vệ: Jack Donnelly (2013) với Universal Human Rights in Theory and Practice; Raija Hanski và Markku Suksi (2000) với An introduction to the international protection of human rights; Pinghua Sun (2014) với Human Rights Protection System in China; Frances Butler (2002), David Feldman, John Hucker, Timothy Waters, Chrisje Brants và Stijn Franken; Stephanos Stavros (1993) với công trình phân tích Điều 6 Công ước châu Âu về quyền con người; Clovis C. Morisson (1968) so sánh Tòa án Tối cao Hoa Kỳ và Tòa án Nhân quyền Châu Âu.
  • Các công trình khảo sát pháp luật và thực tiễn quốc gia: John A. Andrew (1982) nghiên cứu tố tụng hình sự tại Anh, Đức, Bỉ, Hy Lạp; M. Cherif Bassiouni và Ziyad Motala (1995) nghiên cứu thực tiễn tại các nước châu Phi (Kenya, Nigeria, Sudan, Zimbabwe); Javie Dondé Matute nghiên cứu hệ thống châu Mỹ và Hoa Kỳ; Jianfu Chen khảo cứu tố tụng Trung Quốc; William B. Cleary và B.J. George nghiên cứu pháp luật tố tụng Nhật Bản; John B. Taylor (2004) khảo cứu lịch sử quyền có luật sư và án lệ Miranda tại Hoa Kỳ.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn các công trình trong nước được công bố trước thời điểm Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được ban hành và thi hành. Các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận quyền con người ở phạm vi rộng trong toàn bộ quy trình tố tụng hình sự hoặc tiếp cận chung nhóm người bị tạm giữ, bị can, bị cáo mà chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp, chuyên sâu và toàn diện về bảo đảm quyền con người của bị can riêng trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Ngoài ra, còn tồn tại sự thiếu thống nhất về mặt học thuật xung quanh khái niệm quyền con người trong tố tụng hình sự, cơ sở và ý nghĩa của việc bảo đảm. Luận án xác định vị trí nghiên cứu của mình là làm sáng tỏ khung lý luận riêng cho giai đoạn điều tra, đồng thời đánh giá toàn diện các quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và thực tiễn thi hành giai đoạn 2009-2018 đối chiếu với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Nền tảng lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên:

  • Lý luận về quyền con người, bản chất tự nhiên và pháp lý của quyền con người, các chuẩn mực quốc tế theo Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UDHR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR), Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người năm 1985 (CAT), và Công ước về Quyền trẻ em năm 1989 (CRC).
  • Lý luận về Nhà nước pháp quyền, cơ cấu phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước, trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền con người.
  • Lý thuyết về các mô hình tố tụng hình sự (mô hình thẩm vấn, mô hình tranh tụng, mô hình kết hợp); lý luận về giai đoạn tố tụng, địa vị pháp lý của người tham gia tố tụng; chức năng của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự; các chế định bổ trợ tư pháp, biện pháp cưỡng chế và giám sát tư pháp.

Phương pháp luận và cách tiếp cận

  • Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin: Xem xét quyền con người của bị can trong mối quan hệ gắn bó mật thiết với các quyền công dân khác và phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước qua từng thời kỳ lịch sử.
  • Tiếp thu tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp và các nghị quyết, văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp.
  • Áp dụng cách tiếp cận dựa trên quyền con người (lấy quyền con người làm trung tâm), tiếp cận việc bảo đảm quyền con người của bị can dưới góc độ là một hoạt động cụ thể của các cơ quan công quyền.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  • Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các khái niệm lý luận, cấu trúc các quy định pháp luật trong Bộ luật Tố tụng hình sự và luận giải các nhóm giải pháp.
  • Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các luồng quan điểm học thuật trong và ngoài nước để đúc kết thành các nhận định khoa học.
  • Phương pháp thống kê và nghiên cứu vụ việc điển hình: Thu thập, xử lý các bảng số liệu thực tiễn và phân tích các vụ án cụ thể xảy ra trong giai đoạn 2009-2018 nhằm minh chứng cho thực trạng vi phạm và thực trạng áp dụng pháp luật.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực pháp lý quốc tế và lịch sử lập pháp tố tụng hình sự Việt Nam qua các thời kỳ.
  • Phương pháp hệ thống: Đặt các quy định về quyền của bị can trong mối liên hệ chỉnh thể với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và người bào chữa.
  • Phương pháp lịch sử cụ thể: Xem xét sự tiến triển của các quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam qua các văn bản lập hiến và lập pháp từ năm 1945 đến nay.

Nguồn tư liệu và dữ liệu của luận án gồm: Các văn kiện quốc tế về nhân quyền; Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; các báo cáo tổng kết thực tiễn, số liệu thống kê tư pháp từ Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Tòa án nhân dân tối cao trong giai đoạn 2009-2018.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận chuyên biệt cho đề tài thông qua bốn nội dung chính:

Nội dung lý luận Các luận điểm và kết quả phân tích cụ thể
Khái niệm bảo đảm quyền con người của bị can - Phân tích thuật ngữ: "Bảo đảm" là việc tạo ra hệ thống tiền đề, công cụ, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, pháp lý để cá nhân thực hiện quyền.
- Xác định bản chất bảo đảm quyền con người của bị can dưới góc độ là một hoạt động.
- Xác định chủ thể bảo đảm gồm: Cơ quan lập pháp (ghi nhận quyền), Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (thực thi và giám sát).
- Chủ thể được bảo đảm: Bị can là cá nhân bị khởi tố hình sự.
- Đối tượng bảo đảm: Nhóm quyền con người chung (tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, tự do thân thể) và nhóm quyền tố tụng đặc thù của người bị buộc tội.
Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền con người của bị can - Ý nghĩa chính trị: Khẳng định bản chất dân chủ, nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam trong việc thực thi các cam kết nhân quyền.
- Ý nghĩa pháp lý: Đảm bảo tính khách quan, toàn diện trong điều tra, phòng ngừa oan sai, bảo vệ sự tôn nghiêm của pháp luật và nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp.
- Ý nghĩa xã hội: Giữ vững niềm tin của nhân dân vào công lý, bảo vệ trật tự an toàn xã hội và tính ổn định pháp lý cho công dân.
Cơ sở của việc bảo đảm quyền con người của bị can - Cơ sở triết học và nhân quyền: Quyền con người là giá trị vốn có, bất khả xâm phạm của cá nhân độc lập với tư cách tố tụng của họ.
- Cơ sở xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người; mọi hành vi hạn chế quyền phải do luật định.
- Cơ sở pháp lý quốc tế và quốc gia: Các quy định tại Tuyên ngôn nhân quyền 1948, Công ước ICCPR 1966, Công ước CAT 1985, Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo đảm - Yếu tố chủ quan: Nhận thức, trình độ pháp lý, ý thức tôn trọng pháp luật và đạo đức nghề nghiệp của Điều tra viên, Kiểm sát viên; nhận thức pháp lý của chính bị can và người bào chữa.
- Yếu tố khách quan: Tính hoàn thiện và đồng bộ của hệ thống pháp luật; mô hình tổ chức tố tụng; cơ chế kiểm soát quyền lực và giám sát tư pháp; điều kiện cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật; áp lực đấu tranh phòng chống tội phạm và dư luận xã hội.

Chương 2: Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy phạm pháp luật tố tụng hình sự của Việt Nam (trọng tâm là Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, có đối chiếu với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003):

  • Các nguyên tắc tố tụng bảo đảm quyền con người của bị can: Phân tích hệ thống các nguyên tắc cơ bản như: Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân (Điều 8); Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 10); Bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân (Điều 11); Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13) với yêu cầu trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, bị can có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội; Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội (Điều 16); Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26).

  • Quy định về quyền của bị can trong giai đoạn điều tra: Luận án phân tích danh mục quyền của bị can theo quy định tại Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bao gồm: Quyền được biết lý do mình bị khởi tố; quyền được nhận các quyết định tố tụng; quyền được trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội (thể hiện tinh thần của nguyên tắc chống tự buộc tội); quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa; quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; quyền đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; quyền khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền.

  • Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Phân tích thẩm quyền, trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cán bộ điều tra; thẩm quyền của Viện kiểm sát, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong việc thụ lý, phê chuẩn, kiểm sát các hoạt động điều tra nhằm ngăn chặn việc lạm quyền và bảo đảm quyền con người.

  • Quy định về trình tự, thủ tục điều tra: Phân tích tính pháp lý của quy trình khởi tố bị can; thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn và biện pháp cưỡng chế (bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản); các biện pháp điều tra thu thập chứng cứ (hỏi cung bị can, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra, khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu). Luận án chỉ ra các điểm tiến bộ như bắt buộc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh khi hỏi cung bị can theo quy định tại Điều 183 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

  • Quy định về giám sát việc thực thi quyền con người: Phân tích cơ chế kiểm sát trực tiếp của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra, cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự (Chương XXXIII) và vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, tổ chức xã hội, luật sư.

Chương 3: Thực tiễn và các giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Chương 3 kết hợp phân tích số liệu thực tiễn và xây dựng các định hướng, giải pháp hoàn thiện:

  • Thực tiễn bảo đảm quyền con người của bị can (2009-2018):

    • Kết quả đạt được: Hầu hết các vụ án hình sự được điều tra đúng thẩm quyền, trình tự pháp luật; tỷ lệ khởi tố đúng tội phạm tăng; việc tống đạt quyết định tố tụng và giải thích quyền cho bị can được thực hiện nghiêm túc hơn; sự tham gia của người bào chữa trong giai đoạn điều tra từng bước được mở rộng; các trường hợp oan sai từng bước được phát hiện và giải quyết bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
    • Hạn chế, tồn tại: Tình trạng lạm dụng biện pháp tạm giam vẫn diễn ra phổ biến so với các biện pháp ngăn chặn thay thế (như bảo lĩnh, đặt tiền); còn xảy ra hiện tượng tạm giữ, tạm giam quá thời hạn luật định; việc cản trở hoặc làm chậm thủ tục đăng ký người bào chữa tham gia giai đoạn điều tra vẫn xuất hiện; một số Điều tra viên còn sử dụng các biện pháp trái pháp luật trong hỏi cung như ép cung, mớm cung, thậm chí dùng nhục hình dẫn đến sai lệch hồ sơ vụ án.
    • Nguyên nhân: Hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành còn chậm ban hành; biên chế và trình độ nghiệp vụ của một bộ phận Điều tra viên chưa đồng đều; áp lực chỉ tiêu khám phá án; cơ sở vật chất phòng hỏi cung và thiết bị kỹ thuật ghi âm, ghi hình chưa đáp ứng kịp thời trên diện rộng; công tác kiểm sát điều tra ở một số địa phương còn hình thức.
  • Yêu cầu đặt ra trong tình hình mới: Quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền; hiện thực hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013; đáp ứng các cam kết trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã phê chuẩn (đặc biệt là ICCPR và CAT).

  • Hệ thống các nhóm giải pháp đề xuất:

    1. Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự: Sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể hóa quyền không tự buộc tội; thu hẹp căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam; quy định rõ ràng và rút ngắn thời hạn cấp văn bản thông báo người bào chữa; hoàn thiện chế tài đối với hành vi xâm phạm quyền của bị can trong điều tra; hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo độc lập.
    2. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng và người bào chữa: Đổi mới công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng điều tra văn minh cho Điều tra viên; giáo dục đạo đức nghề nghiệp và ý thức tôn trọng nhân quyền; nâng cao trách nhiệm kiểm sát của Kiểm sát viên trong việc trực tiếp tham gia hỏi cung; củng cố tổ chức và chất lượng đội ngũ luật sư.
    3. Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật: Đầu tư trang thiết bị ghi âm, ghi hình có âm thanh đồng bộ tại các cơ sở giam giữ và phòng hỏi cung của Cơ quan điều tra các cấp; đảm bảo điều kiện ăn, ở, sinh hoạt hợp vệ sinh cho bị can bị tạm giam.
    4. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát: Đẩy mạnh giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và báo chí đối với hoạt động điều tra; xử lý nghiêm minh mọi hành vi bức cung, dùng nhục hình hoặc vi phạm tố tụng nghiêm trọng.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã đạt được các kết quả và đóng góp mới trên cả phương diện lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận:

    • Xây dựng và luận giải khái niệm "Bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự" dưới góc độ là một hoạt động có sự tham gia của nhiều chủ thể công quyền.
    • Phân tích rõ cấu trúc, nội dung, cơ sở triết học, cơ sở pháp lý và các tiêu chí đánh giá mức độ bảo đảm quyền con người của bị can ở giai đoạn tiền xét xử.
    • Làm rõ hệ thống các yếu tố ảnh hưởng mang tính chủ quan và khách quan đến hiệu quả bảo đảm quyền con người của bị can.
  • Về mặt thực tiễn và lập pháp:

    • Cung cấp bức tranh toàn cảnh, có căn cứ khoa học và số liệu thực tế về thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam đối với bị can giai đoạn 2009-2018 trên phạm vi toàn quốc.
    • Chỉ rõ các bất cập trong kỹ thuật lập pháp của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và những điểm vênh so với các công ước quốc tế về nhân quyền (như quyền không tự buộc tội, điều kiện áp dụng tạm giam, thủ tục tham gia của người bào chữa).
    • Đề xuất một hệ thống giải pháp toàn diện, có tính khả thi, kết hợp giữa việc sửa đổi luật, cải cách tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng nhân lực và đầu tư hạ tầng kỹ thuật tư pháp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Về chủ thể nghiên cứu: Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với bị can là cá nhân, chưa đi sâu vào địa vị pháp lý của pháp nhân thương mại bị khởi tố hình sự (một chế định mới được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015).
  • Về phạm vi dữ liệu: Luận án không khảo sát số liệu thực tiễn đối với các vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của các Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân do tính chất đặc thù.
  • Về thời gian: Khảo sát thực tiễn dừng lại ở mốc thời gian năm 2018, thời điểm Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mới bước đầu đi vào cuộc sống, nên chưa đánh giá được toàn diện hiệu quả dài hạn của các quy định mới (như việc ghi âm, ghi hình có âm thanh bắt buộc khi hỏi cung trên phạm vi toàn quốc).

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục nghiên cứu mở rộng cơ chế bảo đảm quyền của pháp nhân thương mại khi là bị can trong tố tụng hình sự.
  • Khảo sát, đánh giá chuyên sâu thực tiễn bảo đảm quyền con người của bị can trong hệ thống cơ quan điều tra thuộc Quân đội nhân dân.
  • Đánh giá tác động thực tế của việc áp dụng toàn diện quy định ghi âm, ghi hình có âm thanh trong hỏi cung bị can theo lộ trình hoàn thiện cơ sở vật chất sau năm 2020.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan tham mưu chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học cho Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp trong quá trình sơ kết, tổng kết việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và xây dựng các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng.
  • Cơ sở đào tạo và viện nghiên cứu: Làm tài liệu giảng dạy, học tập chuyên sâu cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên luật tại các trường đại học chuyên ngành luật (Trường Đại học Luật Hà Nội, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Tư pháp, Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện Kiểm sát).
  • Cán bộ thực tiễn tư pháp: Giúp Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Luật sư nhận thức rõ giới hạn quyền năng công quyền, nâng cao kỹ năng tác nghiệp, hạn chế vi phạm tố tụng và bảo vệ hiệu quả các quyền, lợi ích hợp pháp của bị can trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định bị can trong tố tụng hình sự là ai và tư cách này bắt đầu từ thời điểm nào? Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và phân tích của luận án, bị can là cá nhân hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự. Tư cách tố tụng của bị can bắt đầu phát sinh kể từ thời điểm Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố bị can và quyết định này có hiệu lực pháp luật (được Viện kiểm sát phê chuẩn theo quy định). Luận án tập trung nghiên cứu đối tượng bị can là cá nhân.

2. Những chủ thể nào có nghĩa vụ và trách nhiệm trực tiếp bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra? Chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm gồm: Cơ quan lập pháp (có trách nhiệm thể chế hóa đầy đủ các quyền con người vào luật); Cơ quan điều tra và Điều tra viên (chủ thể trực tiếp tiến hành các biện pháp điều tra, có trách nhiệm tôn trọng, bảo đảm và không xâm phạm quyền của bị can); Viện kiểm sát và Kiểm sát viên (thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra, giám sát để ngăn ngừa và hủy bỏ các quyết định, hành vi tố tụng trái luật của Cơ quan điều tra).

3. Quy định về quyền không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được luận án nhìn nhận như thế nào? Luận án chỉ ra rằng điểm d khoản 2 Điều 60 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã ghi nhận quyền của bị can: "Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội". Đây là sự tiếp cận phù hợp với điểm g khoản 3 Điều 14 Công ước ICCPR 1966 và Hiến pháp 2013, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để loại bỏ việc dùng nhục hình, bức cung và chuyển đổi nhận thức từ việc coi lời nhận tội là "nữ hoàng của chứng cứ" sang nghĩa vụ chứng minh tội phạm của cơ quan tiến hành tố tụng.

4. Những hạn chế lớn nhất trong thực tiễn bảo đảm quyền con người của bị can giai đoạn 2009-2018 được luận án chỉ ra là gì? Thực tiễn giai đoạn 2009-2018 cho thấy ba nhóm hạn chế chính: (1) Tình trạng lạm dụng biện pháp tạm giam diễn ra phổ biến trong khi các biện pháp ngăn chặn khác ít được áp dụng; (2) Vẫn còn hiện tượng vi phạm thời hạn tạm giữ, tạm giam và chậm trễ trong thủ tục cấp thông báo tham gia tố tụng cho người bào chữa; (3) Tình trạng bức cung, nhục hình, ép cung của một bộ phận Điều tra viên chưa được xóa bỏ hoàn toàn, gây ra một số vụ án oan sai nghiêm trọng trong xã hội.

5. Luận án đề xuất giải pháp kỹ thuật cụ thể nào để giám sát quá trình hỏi cung bị can? Luận án đề xuất giải pháp thực hiện nghiêm túc quy định bắt buộc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong quá trình hỏi cung bị can trên toàn quốc; nhanh chóng hoàn thiện cơ sở vật chất phòng hỏi cung đạt chuẩn; đồng thời xây dựng quy chế bảo quản, trích xuất và sử dụng dữ liệu ghi âm, ghi hình như một nguồn chứng cứ bắt buộc khi kiểm sát điều tra và tranh tụng tại phiên tòa.

Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Thị Thu Hiền là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về vấn đề bảo đảm quyền con người của bị can trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại Việt Nam. Bằng việc phân tích sâu sắc các cơ sở lý luận, hệ thống hóa quy phạm pháp luật tố tụng hình sự năm 2015 và khảo sát số liệu thực tiễn giai đoạn 2009-2018, luận án đã làm rõ những thành tựu cũng như các khoảng trống, bất cập còn tồn tại trong hoạt động tố tụng tiền xét xử. Các kiến nghị sửa đổi pháp luật và hệ thống giải pháp đồng bộ được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn rõ ràng, góp phần thúc đẩy tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.