đặt vấn đề về QCN, đặt những viên gạch lý luận về QCN. Chủ nghĩa Mác – Lê nin trên cơ sở kế thừa các học thuyết tiến bộ, khẳng định, đề cao con người và QCN. Những quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin đã tạo nền tảng để các dân tộc yếu thế vùng lên, qua đó tạo những đột phá trong cách mạng về QCN. Về khái niệm, định nghĩa, QCN được hiểu và định nghĩa khác nhau.
Theo thống kê không chính thức, cho đến nay có đến gần 60 định nghĩa về QCN được công bố. Mỗi định nghĩa tiếp cận ở những góc độ khác nhau về QCN. Ở cấp bộ quốc tế, văn phòng cao ủy Liên hợp quốc về QCN (OHCHR) có đưa ra được một định nghĩa về QCN và được sử dụng tương đối rộng rãi. Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về QCN cũng cho rằng QCN là những đảm bảo về mặt pháp luật, pháp lý.
Những đảm bảo này có vai trò đảm bảo cho các các nhân đơn lẻ và các nhóm bảo vệ họ khỏi những sự xâm hại đến nhân phẩm và các quyền tự do cơ bản khác. Xuất phát từ những quan niệm khoa học và đúng đắn về con người, C. Mác đã xác định: “Con người là “con người xã hội” là sự “tổng hòa các 6 luan an quan hệ xã hội” cho nên QCN thể hiện sâu sắc giá trị các quan hệ xã hội và hiển nhiên mang bản chất đó. Từ điển Luật học đưa ra định nghĩa như sau: “Quyền của thành viên trong xã hội loài người – quyền của tất cả mọi người.
Đó là nhân phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực của con người được thể chế hóa (ghi nhận) trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia” [5, tr. Có nhiều định nghĩa về QCN đã được các nhà khoa học ở Việt Nam nêu ra. QCN luôn gắn với pháp luật, phải được pháp luật ghi nhận thừa nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật và QCN được nhà nước bảo vệ. Bảo vệ QCN là nghĩa vụ của nhà nước để bảo đảm tính bắt buộc chung của pháp luật được nhà nước ban hành.
Các bản Hiến pháp (Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992) là những nấc thang ghi nhận và phát triển các quyền cũng như cơ chế bảo vệ các QCN ở Việt Nam. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã dành vị trí và nội dung rất quan trọng quy định về QCN. Theo Điều 14 – Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 quy định rõ: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các QCN, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; QCN, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” [14]. Bên cạnh Hiến pháp, nhà nước ta đã ban hành và quy định nhiều văn bản luật quan trọng như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, BLHS, BLTTHS, Luật hôn nhân – gia đình, Luật khiếu nại tố cáo, Luật báo chí, Luật quốc tịch…ghi nhận QCN trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa của công dân, trong lĩnh vực dân sự, chính trị…đây là công cụ pháp lý quan trong để bảo vệ QCN ở Việt Nam.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về QCN như vây, nhưng 7 luan an trước hết có thể hiểu QCN là những đặc quyền mà con người sinh ra là tự nhiên có. QCN ghi nhận rất nhiều QCN của con người. Đó có thể là quyền được sống. Quyền được sống có thể nói là quyền con người quan trọng nhất.
Bên cạnh đó là quyền được bảo vệ. Và ngoài ra còn là quyền được tự do phát triển của con người. Những quyền này phải được pháp luật ghi nhận một cách cụ thể thì mới chính thức là QCN. Khái niệm quyền con người trong tố tụng hình sự Trong mỗi quốc gia, QCN trong TTHS là có thể nói là nội dung cơ bản và thể hiện cụ thể của QCN nói chung của quốc gia đó trong lĩnh vực TTHS.
Ở nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, QCN trong TTHS được ghi nhận tại Hiến pháp 2013 – đạo luật cao nhất của nhà nước và được cụ thể hóa trong các quy định của BLTTHS năm 2015 như sau: Điều 8 - Tôn trọng và bảo vệ QCN, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; Điều 9 - Bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật; Điều 10 - Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể; Điều 11 - Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân; danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân; Điều 12 - Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của cá nhân; Điều 13 - Suy đoán vô tội; Điều 14 - Không ai bị kết án hai lần vì một tội phạm; Điều 15 - Xác định sự thật của vụ án; Điều 16 - Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự… Những QCN trong TTHS cho thấy những quy định của pháp luật về QCN trong TTHS thể hiện mối quan hệ pháp lý chặt chẽ giữa nhà nước với các chủ thể tham gia trong quan hệ pháp luật TTHS mà bản chất của nó là cả nhà nước và các chủ thể này đều có quyền và nghĩa vụ đối với nhau và nếu vi phạm thì đều phải chịu trách nhiệm pháp lý như nhau. Có thể thấy quyền công dân chính là những QCN cụ thể trên tất cả mọi lĩnh vực được pháp luật quốc gia ghi nhận. Và trong lĩnh vực TTHS thì 8 luan an xuất hiện những QCN trong lĩnh vực TTHS cần được bảo vệ. Không phải mọi QCN, quyền công dân đều có thể bị xâm phạm trong hoạt động TTHS, chỉ có những QCN trong lĩnh vực TTHS mới có thể cần phải được bảo vệ vì bị xâm phạm.
Để phân biệt, giới hạn được phạm vi các QCN cần được bảo vệ trong TTHS với QCN nói chung và quyền công dân nói riêng cần xác định được đối tượng của QCN trong TTHS và xác định được lĩnh vực của QCN trong TTHS. Nhận thức đúng điều này mới có thể tiến hành đúng đắn, hiệu quả hoạt động bảo vệ QCN trong TTHS. Trong TTHS, có nhiều chủ thể khác nhau tham gia với vai trò, địa vị pháp lý tố tụng khác nhau. Có nhóm chủ thể là chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng, có nhóm chủ thể chỉ là chủ thể tham gia.
Trong mối tương quan chung về địa vị pháp lý, có thể thấy có những chủ thể thuộc nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương như người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) và tiếp theo là quyền của những người tham gia TTHS khác như: nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng, người bị hại, người bào chữa… Người bị buộc tội (người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) mặc dù là những đối tượng có thế phải trách nhiệm hình sự nhưng họ vẫn được hưởng những QCN cơ bản nhất là: quyền không bị tra tấn, đánh đập khi bị giam, giữ, được xét xử công bằng, điều tra khách quan, quyền được tôn trọng về nhân phẩm… Quyền con người trong TTHS được hiểu như sau: Quyền con người trong TTHS là các quyền dân sự, chính trị của các chủ thể TTHS, mà chủ yếu là người tham gia tố tụng về bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh dự nhân phẩm.của họ trong TTHS, bảo vệ họ khỏi sự lạm quyền và tùy tiện của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị tạm giữ và quyền con người của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 1. Người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam Điều 59 BLTTHS năm 2015 quy định về người bị tạm giữ như sau: 9 luan an “Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ” [15]. Sau khi một người bị bắt quả tang, bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người đó tự thú, đầu thú hoặc bị bắt theo quyết định truy nã thì biện pháp ngăn chặn tiếp theo được áp dụng là biện pháp tạm giữ.
Do vậy, trước khi trở thành người bị tạm giữ, người đó có thể là người bị bắt quả tang, người đó có thể là người bị bắt truy nã, người đó có thể bị giữ khẩn cấp hoặc tự thú, đầu thú. Bên cạnh là người chưa bị khởi tố về hình sự, bị can, bị cáo cũng có thể trở thành người bị tạm giữ trong trường hợp họ là bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã và sau đó bị tạm giữ. Những người này khi bị tạm giữ sẽ bị hạn chế, tước bỏ một số quyền tự do nhất định. Do vậy QCN của họ cần được chú ý đảm bảo, không để cho các chủ thể có thẩm quyền vi phạm QCN của họ.
Từ quy định của BLTTHS 2015, người bị tạm giữ trong TTHS được hiểu như sau: Người bị tạm giữ là người bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ nhằm hạn chế một số quyền tự do của họ trong một khoảng thời gian nhất định sau khi người đó tự thú, đầu thú hoặc bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã. Như vậy, một người để trở thành người bị tạm giữ cần đảm bảo hai vấn đề sau đây: Thứ nhất, người đó là người đã tự thú, đầu thú hoặc đã bị áp dụng các BPNC như bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã. Theo Điều 4 BLTTHS năm 2015, người phạm tội tự thú là việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phạm 10 luan an tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện. Người phạm tội đầu thú là việc người phạm tội sau khi bị phát hiện đã tự nguyện ra trình diện và khai báo với cơ quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của mình.