Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (M&A) trên thế giới đã phát triển từ sớm như một phương thức tổ chức lại doanh nghiệp, tập trung các nguồn lực về tài chính, công nghệ, nhân lực và thương hiệu. Tại Việt Nam, chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cùng tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng đã thúc đẩy các quan hệ kinh tế, dân sự và thương mại gia tăng về cả số lượng lẫn quy mô. Trong tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế và ứng phó với các biến động kinh tế sau giai đoạn khủng hoảng, hoạt động mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam diễn ra ngày càng sôi động. Dẫn chứng thực tế được ghi nhận trong văn bản cho thấy năm 2015, quy mô các giao dịch M&A tại Việt Nam ghi nhận sự gia tăng mạnh, đạt giá trị khoảng 2,5 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2014.
Tuy nhiên, thực tiễn giao dịch mua bán doanh nghiệp diễn ra sôi động lại đối lập với tình trạng thiếu hụt một hành lang pháp lý chuyên biệt. Hệ thống pháp luật Việt Nam thời điểm này chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa cụ thể về hoạt động mua bán doanh nghiệp cũng như hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Các chủ thể kinh doanh khi tiến hành giao dịch chủ yếu vận dụng các quy định nằm rải rác trong khung pháp lý về cổ phần hóa, niêm yết chứng khoán, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014, Luật Cạnh tranh 2004 và Luật Chứng khoán 2006. Sự phân tán và thiếu tính đặc thù này dẫn đến nhiều vướng mắc trong việc xác định thẩm quyền, hình thức, nội dung hợp đồng và cơ chế thực thi, dễ phát sinh rủi ro tranh chấp. Xuất phát từ bối cảnh đó, cùng thực tiễn thực tập tại Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Tân Huy Hoàng khi doanh nghiệp này thực hiện thương vụ mua lại Công ty Cổ phần nhựa xốp Sao Mai, tác giả Đỗ Bích Phương đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm nghiên cứu toàn diện khung pháp lý và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Trong công trình nghiên cứu này, tác giả xác lập và giải quyết năm nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích khái niệm, đặc điểm, nội dung của hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
- Phân tích thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Tân Huy Hoàng.
- Đánh giá và chỉ ra các hạn chế cần khắc phục trong các quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
- Đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ký kết và thực hiện hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Tân Huy Hoàng nói riêng và các doanh nghiệp Việt Nam nói chung.
Về đối tượng nghiên cứu, đề tài tập trung vào những vấn đề lý luận chung về pháp lý hợp đồng mua bán doanh nghiệp, thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ này tại Việt Nam, cùng thực tiễn thực hiện các điều khoản hợp đồng tại Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Tân Huy Hoàng.
Về phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi thời gian: Khóa luận khảo sát hệ thống văn bản pháp luật hiện hành và thực tiễn giao kết hợp đồng tính đến năm 2016.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu các quy định pháp luật điều chỉnh trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam, kết hợp khảo sát tình huống điển hình tại Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Tân Huy Hoàng.
Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận, tác giả sử dụng phép biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin làm nền tảng xem xét mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng pháp lý, chỉ ra rằng sự vận động của kinh tế thị trường đòi hỏi hệ thống pháp luật phải kịp thời hoàn thiện tương ứng. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để phân tích các quy định pháp luật hiện hành, bóc tách các yếu tố cấu thành hợp đồng mua bán doanh nghiệp, đối chiếu các quy định pháp lý với thực tiễn áp dụng.
- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập các văn bản quy phạm pháp luật, sách chuyên khảo, tài liệu nghiên cứu liên quan; đồng thời thu thập hồ sơ pháp lý, sổ sách, hợp đồng thực tế từ thương vụ của Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Tân Huy Hoàng.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực pháp lý quốc tế và pháp luật một số quốc gia (như Bộ luật Dân sự Liên bang Nga và pháp luật Hoa Kỳ) trong việc xác định chủ thể và đối tượng hợp đồng mua bán doanh nghiệp.
Khung pháp lý tác giả sử dụng để đối chiếu, phân tích bao gồm hệ thống các đạo luật và văn bản dưới luật:
- Bộ luật Dân sự 2005 (các điều khoản về nguyên tắc giao kết Điều 4, Điều 5, Điều 389; hình thức giao dịch Điều 124, Điều 410).
- Luật Doanh nghiệp 2014 (Điều 18 về đối tượng cấm thành lập/quản lý doanh nghiệp; Điều 35 về tài sản góp vốn; Điều 187 về bán doanh nghiệp tư nhân).
- Luật Đầu tư 2014 (Điều 24 về hình thức đầu tư góp vốn, mua cổ phần).
- Luật Cạnh tranh 2004 (Điều 17 khoản 3 về kiểm soát tập trung kinh tế thông qua mua lại doanh nghiệp).
- Luật Chứng khoán 2006 (sửa đổi, bổ sung 2010).
- Luật Thương mại 1997 (quy định về sản nghiệp thương mại tại Điều 5 khoản 7) và Luật Thương mại 2005.
- Nghị định số 128/2014/NĐ-CP về bán, giao và chuyển giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước.
- Nghị định số 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp.
- Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.
| Công trình / Tác giả |
Nội dung và phạm vi nghiên cứu |
Khoảng trống pháp lý khóa luận tập trung giải quyết |
| Sách của Phạm Trí Hùng và Đặng Thế Đức (2011) |
Hướng dẫn cơ bản cho bên bán doanh nghiệp trong M&A, giới thiệu biểu mẫu và quy trình thẩm định. |
Chưa phân tích sâu quyền lợi, nghĩa vụ của bên mua và các vấn đề pháp lý ràng buộc hậu giao kết. |
| Luận văn ThS. Vũ Phương Đông (2010) |
Thực trạng và giải pháp pháp luật về mua bán công ty ở Việt Nam. |
Giới hạn phạm vi ở mô hình "công ty", chưa bao quát các loại hình doanh nghiệp khác như doanh nghiệp tư nhân. |
| Bài viết của Phạm Trí Hùng |
Phân tích khái niệm M&A từ góc độ nhiều đạo luật khác nhau (LDN, LĐT, LCT). |
Tiếp cận chung cả hai hoạt động sáp nhập và mua lại, chưa đi sâu vào bản chất riêng biệt của hợp đồng mua bán doanh nghiệp. |
| Khóa luận của Đỗ Bích Phương (2016) |
Phân tích toàn diện quy chế pháp lý hợp đồng mua bán doanh nghiệp kết hợp khảo sát case study doanh nghiệp cụ thể. |
Giải quyết các vướng mắc về chủ thể, đối tượng, hình thức, nội dung hợp đồng và khảo sát thực tiễn tại Công ty Tân Huy Hoàng. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Những lý luận cơ bản về pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán doanh nghiệp
Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận về mua bán doanh nghiệp và hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Tác giả phân tích:
- Khái niệm và đặc điểm của mua bán doanh nghiệp: Hoạt động mua bán doanh nghiệp được định vị là giao dịch mà bên mua hướng tới việc giành quyền quản lý, chi phối hoặc kiểm soát toàn bộ hay một phần hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mục tiêu. Tác giả phân định ranh giới giữa mua bán doanh nghiệp với các quan hệ pháp lý lân cận: khác với cho thuê doanh nghiệp (bên thuê chỉ có quyền quản lý, điều hành theo thời hạn thỏa thuận mà không nắm quyền sở hữu); khác với mua bán tài sản doanh nghiệp thông thường (đối tượng chỉ là tài sản đơn lẻ của doanh nghiệp và chủ thể bán là chính pháp nhân doanh nghiệp, trong khi chủ thể bán doanh nghiệp là chủ sở hữu doanh nghiệp); khác với sáp nhập doanh nghiệp (chuyển giao toàn bộ quyền, nghĩa vụ sang doanh nghiệp nhận sáp nhập và chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập).
- Bản chất và đặc trưng của hợp đồng mua bán doanh nghiệp: Hợp đồng mua bán doanh nghiệp mang tính chất của hợp đồng dân sự nhưng có các đặc thù: (1) Mục đích nhằm tiến hành kinh doanh và nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp; (2) Có sự chuyển giao quyền sở hữu (toàn bộ hoặc một phần); (3) Giá trị hợp đồng là giá trị tổng thể của một thực thể kinh doanh, bao gồm tài sản hữu hình, tài sản vô hình (thương hiệu, mạng lưới khách hàng), quyền và nghĩa vụ pháp lý, các khoản nợ và tiêu sản.
- Cơ sở ban hành pháp luật: Được phân tích dựa trên ba trụ cột: cơ sở chính trị (đường lối của Đảng về phát triển kinh tế nhiều thành phần, hội nhập quốc tế), cơ sở kinh tế (chuyển đổi sang kinh tế thị trường, gia nhập WTO, nhu cầu xử lý doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả), và cơ sở xã hội (thiết lập trật tự pháp lý bảo vệ quyền lợi các bên trong giao dịch).
- Các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh: Gồm 5 nguyên tắc căn bản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005: (1) Tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, không trái pháp luật và đạo đức xã hội; (2) Bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng; (3) Thực hiện đúng hợp đồng; (4) Thực hiện đầy đủ hợp đồng; (5) Giúp đỡ nhau trong quá trình thực hiện hợp đồng.
Chương II: Thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán doanh nghiệp – Thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Tân Huy Hoàng
Chương II kết hợp giữa phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật thực định với khảo sát thực tiễn tại doanh nghiệp:
- Thực trạng quy phạm pháp luật:
- Về chủ thể: Pháp luật hiện hành thiếu quy định cụ thể về chủ thể bán đối với doanh nghiệp nhà nước (không xác định rõ cơ quan hành chính nào đại diện cho Nhà nước ký kết, dẫn đến nguy cơ lạm quyền hoặc vượt thẩm quyền; tác giả dẫn chiếu kinh nghiệm Điều 17, Điều 48 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga quy định rõ Chính phủ và cơ quan quản lý tài sản quốc gia là đại diện bên bán). Về chủ thể mua, quy định tại Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 cấm một số cá nhân, tổ chức thành lập và quản lý doanh nghiệp, song lại tạo kẽ hở hoặc vướng mắc khi các chủ thể này mua lại doanh nghiệp không nhằm mục đích quản lý mà để thừa kế, tặng cho hoặc góp vốn.
- Về hình thức: Pháp luật không quy định trực tiếp về hình thức của hợp đồng mua bán doanh nghiệp mà chỉ quy định gián tiếp qua hồ sơ đăng ký doanh nghiệp (Nghị định 128/2014/NĐ-CP và Nghị định 78/2015/NĐ-CP yêu cầu phải có hợp đồng bằng văn bản). Điểm bất cập là Điều 124 Bộ luật Dân sự 2005 công nhận dữ liệu điện tử, fax, telex, điện báo tương đương văn bản; điều này tiềm ẩn rủi ro rất lớn đối với hợp đồng có giá trị kinh tế lớn và đòi hỏi quy trình thẩm định phức tạp như mua bán doanh nghiệp.
- Về nội dung và đối tượng: Pháp luật chưa xác định các điều khoản cốt yếu của hợp đồng mua bán doanh nghiệp. Về đối tượng, Luật Thương mại 1997 từng có khái niệm "sản nghiệp thương mại" (Điều 5 khoản 7) bao quát trụ sở, thiết bị, nhãn hiệu, mạng lưới tiêu thụ, nhưng Luật Thương mại 2005 đã bãi bỏ. Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2014 chỉ liệt kê tài sản góp vốn, chưa phản ánh được tính phức hợp của doanh nghiệp gồm cả tài sản có và nghĩa vụ nợ (tiêu sản).
- Thực tiễn tại Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Tân Huy Hoàng:
- Bối cảnh: Doanh nghiệp chuyên sản xuất tôn xốp, tấm panel PU và EPS cách nhiệt phục vụ kho lạnh công nghiệp. Năm 2014, công ty ký hợp đồng mua lại toàn bộ Công ty Cổ phần nhựa xốp Sao Mai nhằm mở rộng sản xuất. Đại diện ký kết bên mua là bà Phạm Thị Huệ (đại diện theo pháp luật).
- Quá trình đàm phán và giao kết hợp đồng: Hợp đồng ghi nhận các điều khoản chính: đối tượng (kèm phụ lục kiểm kê tài sản cố định, hữu hình, vô hình); định giá (thuê tổ chức định giá độc lập xác định giá trị quyền sử dụng đất, thương hiệu, hệ thống khách hàng); phương thức thanh toán chuyển khoản; thỏa thuận kế thừa quyền và nghĩa vụ; thỏa thuận bảo toàn tài sản trước bàn giao; thỏa thuận thời hiệu giới hạn trách nhiệm tài chính từ 1 đến 2 năm và trách nhiệm về thuế từ 6 đến 7 năm sau bàn giao; điều khoản phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại.
- Khó khăn nội tại: Đây là thương vụ đầu tiên của công ty; hệ thống pháp luật tản mạn gây lúng túng; công ty chưa có phòng pháp chế hoặc nhân sự chuyên trách pháp lý, phải phụ thuộc hoàn toàn vào việc thuê chuyên gia tư vấn pháp luật độc lập bên ngoài.
Chương III: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Dựa trên thực trạng nghiên cứu, chương III trình bày các quan điểm và giải pháp hoàn thiện:
- Quan điểm hoàn thiện: Quán triệt đường lối, chính sách của Đảng (đặc biệt là Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ, minh bạch); bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong giao dịch; bảo đảm tính thống nhất, tránh mâu thuẫn giữa luật chung (Bộ luật Dân sự) và luật chuyên ngành (Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Cạnh tranh); và đáp ứng tiến trình hội nhập quốc tế.
- Các kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật:
- Xây dựng định nghĩa pháp lý thống nhất về "mua bán doanh nghiệp" trong các văn bản luật kinh doanh.
- Bổ sung quy định rõ ràng về cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước khi tham gia bán doanh nghiệp nhà nước; hoàn thiện quy định về chủ thể mua theo hướng cấm triệt để các đối tượng thuộc Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014 tham gia giao dịch để ngăn ngừa trục lợi.
- Quy định bắt buộc hợp đồng mua bán doanh nghiệp phải lập thành văn bản chính thức, không công nhận các hình thức trao đổi điện tử lỏng lẻo như fax, telex, điện báo.
- Chuẩn hóa quy định về các nội dung cốt yếu của hợp đồng (đối tượng, chuyển giao quyền và nghĩa vụ, bảo vệ quyền lợi người lao động và chủ nợ); ban hành văn bản hướng dẫn thống nhất cơ chế định giá doanh nghiệp dựa trên việc cân đối tài sản có và tài sản nợ, thay vì để các bên tự thỏa thuận cảm tính.
- Nâng cao năng lực và trách nhiệm của cơ quan lập pháp trong việc xây dựng, rà soát văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, tăng cường lấy ý kiến cộng đồng doanh nghiệp.
Kết quả và đóng góp của khóa luận
| Tiêu chí |
Nội dung kết quả và số liệu trích xuất từ văn bản |
| Số liệu thị trường M&A |
Năm 2015, tổng giá trị các thương vụ M&A tại Việt Nam đạt khoảng 2,5 tỷ USD, tăng 15% so với năm 2014. |
| Thực tiễn thương vụ điển hình |
Năm 2014, Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Tân Huy Hoàng mua lại toàn bộ Công ty Cổ phần nhựa xốp Sao Mai; đại diện bên mua là bà Phạm Thị Huệ. |
| Thỏa thuận thời hiệu trách nhiệm |
Thỏa thuận giới hạn trách nhiệm bên bán: 1 - 2 năm đối với vi phạm tài chính; 6 - 7 năm đối với vi phạm pháp luật về thuế sau khi chuyển giao. |
| Cơ sở pháp lý so sánh quốc tế |
Trích dẫn Điều 17, Điều 48 Bộ luật Dân sự Liên bang Nga về chủ thể đại diện nhà nước; Điều 5 khoản 7 Luật Thương mại 1997 của Việt Nam về sản nghiệp thương mại. |
Khóa luận đã làm rõ sự phân tán của khung pháp lý Việt Nam điều chỉnh hợp đồng mua bán doanh nghiệp thông qua việc phân tích trực tiếp các điều luật của Bộ luật Dân sự 2005, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014 và Luật Cạnh tranh 2004. Đóng góp nổi bật của tác giả so với các nghiên cứu trước (vốn chỉ tiếp cận chung chung về sáp nhập hoặc chỉ đứng trên vị thế bên bán) là đã tiếp cận chuyên sâu dưới góc độ hợp đồng, đồng thời phân tích cụ thể các điều khoản ràng buộc quyền lợi của bên mua trên cơ sở một hợp đồng thực tế đã giao kết thành công.
Các đề xuất của khóa luận tập trung vào việc kiến nghị cơ quan lập pháp ban hành định nghĩa thống nhất, quy định cụ thể các nội dung cốt yếu bắt buộc của hợp đồng, chuẩn hóa quy trình định giá và xác định rõ thẩm quyền đại diện bên bán trong doanh nghiệp nhà nước. Về mặt quản trị doanh nghiệp, nghiên cứu khuyến nghị các chủ thể kinh doanh phải đặc biệt chú trọng thiết lập các điều khoản bảo toàn tài sản, bảo mật thông tin và giới hạn thời hiệu truy cứu trách nhiệm tài chính, thuế đối với bên bán sau chuyển giao.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, công trình nghiên cứu chỉ khảo sát sâu một trường hợp điển hình tại Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Tân Huy Hoàng với mô hình mua lại toàn bộ một công ty cổ phần. Do giới hạn về dữ liệu tiếp cận và kinh nghiệm thực tiễn, khóa luận chưa thể mở rộng khảo sát so sánh nhiều thương vụ thuộc các loại hình doanh nghiệp khác nhau như chuyển nhượng doanh nghiệp tư nhân hay mua bán phần vốn góp trong công ty hợp danh. Mặt khác, hệ thống pháp luật được phân tích dừng lại ở các quy định hiện hành tại thời điểm năm 2016.
Về hướng nghiên cứu tiếp, văn bản đặt ra yêu cầu cần tiếp tục theo dõi, đánh giá sự thay đổi của khung pháp lý khi Bộ luật Dân sự mới và các văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực; đồng thời kiến nghị mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán doanh nghiệp thông qua trọng tài thương mại và các giải pháp pháp lý bảo vệ quyền lợi của bên thứ ba (chủ nợ, người lao động) trong các giao dịch M&A phức hợp.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Quản trị Kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng đang thực hiện các đề tài nghiên cứu liên quan đến hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp và pháp luật hợp đồng kinh doanh thương mại.
Đối với các luật sư, chuyên viên tư vấn pháp lý và doanh nghiệp, nội dung tại Chương II của khóa luận có giá trị ứng dụng thực tiễn cao. Phần phân tích cấu trúc điều khoản trong thương vụ thực tế của Công ty Tân Huy Hoàng cung cấp kinh nghiệm cụ thể về cách phân loại tài sản thẩm định, xác lập phương thức thanh toán, cơ chế giám sát chuyển giao và đặc biệt là cách thức thỏa thuận điều khoản giới hạn thời hiệu trách nhiệm tài chính (1 - 2 năm) và nghĩa vụ thuế (6 - 7 năm) của bên bán, giúp các bên phòng ngừa tranh chấp trong quá trình soạn thảo hợp đồng.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể nào?
Khóa luận giải quyết năm nhiệm vụ chính: (1) Làm rõ lý luận về khái niệm, đặc điểm, nội dung hợp đồng mua bán doanh nghiệp; (2) Phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật điều chỉnh tại Việt Nam; (3) Đánh giá việc áp dụng pháp luật trong thương vụ thực tế tại Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Tân Huy Hoàng; (4) Chỉ ra các điểm hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật hiện hành; (5) Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi hợp đồng.
Điểm khác biệt căn bản giữa mua bán doanh nghiệp và mua bán tài sản doanh nghiệp được tác giả chỉ ra là gì?
Tác giả phân tích sự khác biệt nằm ở đối tượng và chủ thể giao dịch:
- Về đối tượng: Đối tượng của mua bán tài sản chỉ là các tài sản đơn lẻ của doanh nghiệp mục tiêu; trong khi đối tượng của mua bán doanh nghiệp là toàn bộ hoặc một phần một thực thể kinh doanh, bao gồm tài sản hữu hình, tài sản vô hình, các quyền, nghĩa vụ pháp lý và cả các khoản nợ (tiêu sản).
- Về chủ thể: Chủ thể bán trong quan hệ mua bán tài sản chính là pháp nhân doanh nghiệp đó; còn chủ thể bán trong quan hệ mua bán doanh nghiệp phải là chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Các bên trong hợp đồng mua bán doanh nghiệp tại Công ty Tân Huy Hoàng đã thỏa thuận thời hiệu giới hạn trách nhiệm tài chính và thuế như thế nào?
Trong hợp đồng giao kết với Công ty Cổ phần nhựa xốp Sao Mai, bên mua đã thỏa thuận điều khoản bảo vệ trách nhiệm: giới hạn thời hiệu trách nhiệm của bên bán đối với các vi phạm tài chính phát sinh trước chuyển giao là từ 1 đến 2 năm, và thời hiệu đối với các vi phạm về thuế là từ 6 đến 7 năm tính từ thời điểm giao dịch hoàn thành.
Bất cập pháp lý lớn nhất liên quan đến hình thức hợp đồng mua bán doanh nghiệp theo phân tích của khóa luận là gì?
Pháp luật Việt Nam không có quy định trực tiếp bắt buộc hình thức của hợp đồng mua bán doanh nghiệp mà chỉ quy định gián tiếp qua thủ tục đăng ký thay đổi chủ sở hữu. Do đó, theo Điều 124 Bộ luật Dân sự 2005, các giao dịch điện tử như fax, telex, điện báo được coi là tương đương văn bản. Tác giả chỉ ra rằng việc áp dụng các hình thức điện tử lỏng lẻo này cho một hợp đồng có giá trị rất lớn, tính chất pháp lý phức tạp và đòi hỏi thẩm định chuyên sâu như mua bán doanh nghiệp là không phù hợp và tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý.
Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Tân Huy Hoàng đã đối mặt với những khó khăn nội tại nào khi thực hiện thương vụ?
Quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng của doanh nghiệp gặp khó khăn do đây là thương vụ M&A đầu tiên của công ty nên thiếu kinh nghiệm thực tế. Thêm vào đó, công ty chưa thành lập bộ phận pháp chế chuyên trách hay có nhân sự tư vấn pháp lý nội bộ, dẫn đến việc soạn thảo và đàm phán hợp đồng phụ thuộc hoàn toàn vào việc thuê chuyên gia tư vấn bên ngoài, gây lúng túng khi đối chiếu với hệ thống pháp luật tản mạn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Bích Phương đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng về hợp đồng mua bán doanh nghiệp, đồng thời chỉ ra thực trạng thiếu hụt và phân tán của hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh lĩnh vực này tại thời điểm năm 2016. Thông qua việc phân tích chi tiết thương vụ mua lại Công ty Cổ phần nhựa xốp Sao Mai của Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Tân Huy Hoàng, công trình đã phản ánh sát thực các vướng mắc trong khâu định giá, xác định thẩm quyền và ràng buộc trách nhiệm hậu chuyển giao. Các giải pháp và kiến nghị lập pháp do tác giả đề xuất cung cấp cơ sở tham khảo có giá trị cho việc tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về M&A cũng như nâng cao năng lực quản trị rủi ro hợp đồng cho các doanh nghiệp.