CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐẺ LÝ LUẬN VẺ HOẠT ĐỘNG CUNG cAP CHUNG CU 111. Khai niệm chứng cứ trong tố tụng dân sự Quá trình giải quyết vụ việc của Tòa án lả việc xem xét chứng cứ, ap dụng pháp luất để sắc định sự thất khách quan, đưa ra các quyết định bao dim quyển và lợi ích hợp pháp cho các đương sự. Có thể thay rằng, chứng cứ là.
một trong những yêu tổ có vai trò quyết định trong quá trình giãi quyết vụ việc Không có chứng cứ, các đương sự không thể chứng minh cho yêu cầu, quan điểm của mình là có căn cứ, Toa án không có cơ sở để giải quyết vụ việc được chính sắc khách quan theo đúng ban chất của sự việc, dim bảo quyển va lợi ích hợp pháp của các đương sự Do có vai trỏ quan trọng trong hoạt động tô tung dân sự nên khái niệm chứng cứ được pháp luật tổ tung dan sự của nhiêu nước dé cập đến. Cá biệt có nước còn xây dựng đạo luật riêng về chứng cứ thể hiện sự quan trọng của vẫn để này, Tại khoản 1 Điều 55 B6 luật Tô tung Dân sự năm 2003 của Liên bang Nga đã đưa ra khái niêm về chứng cứ như sau. “Chứng cit trong vu án dân ste là những gi được tìm thép theo trink te thủ tục do pháp luật quy định mà Tòa ám căn cứ vào đỗ đỗ xác định có hay khong các tình tit làm cơ sở cho những. yêu câu hoặc sự phản đỗi yêu cầu của các bên cĩing như những tình tiết khác.
số ý nghĩa đỗ gidt quyết đừng đẫn vụ án”. Khải niêm này đã nêu được một cách tương đổi tổng quát về chứng cứ, tuy nhiên vẫn chưa néu được bản chat của chứng cứ lả những gì có thật, phan ánh sự thật khách quan. Hay nói cảch khác là khái niệm chứng cứ trong Bộ luật Tổ tụng Dân sư năm 2003 của Liên ˆ Nguyễn Thánh Ngọc, Pham Vin Trung (2005), độ ltt tổ ng dn sự Tiên 8 mng Nga, NA Tưphúp, HÀ Nee 8 ‘bang Nga chưa phản ảnh ban chất của chứng cit ma di sâu vào việc giã thích trình tự thực hiến việc thu thập, sử dụng chứng cứ, chưa phan ánh được nội hàm của chứng cứ. Con theo Luật Chứng cử của Uc, chứng cứ được hiễu là những gì đươc dung để chứng minh sự tổn tại của một tình tiết thực tế nào đó trong các vụ án.
hình sự va dân sự. Các sự kiên, tài liệu được sử dụng làm chứng cứ phải được. thu thập, kiểm tra, đánh giá theo trình tự, thủ tục và những nguyên tắc nhất định theo quy định của luật chứng cv’. Trong hệ thống pháp luật dên sự Việt Nam, trước năm 2004 chưa có khái niệm chính thức vé chứng cứ.
Tại Bô luật Tổ tụng Dân sự năm 2004, lẫn đầu tiên khái niêm chứng cứ được ghi nhận mốt cách tương đối đây đủ, theo đó: "Chứng cử trong vu việc dân sự là những gi có thật được đương sự và cá nhân cơ quan 16 chit khắc giao nộp cho Téa ca hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tee thủ tục đo bộ luật này guy đmh mà tòa án dong làm căn cứ dé xác đimh yêu cầu hay phân đối của đương sự là có căn cứ hợp pháp hay không cũng nine những tình tiết Rhác cần thất cho việc giải quyết đíng đắn vụ việc dân sie? Đến Bộ luật Tổ tung Dân sự năm 2015 khái niệm chứng cứ tiếp tục được phát triển va hoàn thiện trên cơ sỡ kế thửa quy định của Bộ luật Tổ tung dân sự năm 2004 va học hỏi cỏ chọn lọc việc xây dựng khái niệm chứng cứ của một số quốc gia trên thé giới và đưa ra định nghĩa như sau: “C?ưững cứ: trong vụ việc dân sự là những gì cô that được đương sự và cơ quan, 18 chức cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa dn trong quá trình tổ tung hoặc do Tòa án tas thập được theo trùnh tực thi tục do Bồ luật nàp guy định và được Tòa dn sit dung làm căn cứ đŠ xác định các tình tiết khách quan của vụ án 'Nguẫn Nene Rash, Mae tất a vd chứng cứ rong sổ ng hôi sự theo Bute ching cứ tia Úc ‘Bi 81, Bo iit Tong Dân sự Vat Nama 2008 9 cũng niuexdc dinh yêu cầu hay sự phân di của đương sựlà có căn cit va hop pháp Tir các khái niêm, đính nghĩa trên cho thấy quan điểm chung thông nhất của các nước đều xác định chứng cử lả cãi có that. Chứng cử có thé la những tin tức, dẫu vết liên quan dén các tinh tiết, sự kiên của vu việc dân su được Toa an dùng lam căn cứ để giải quyết vụ việc dan sự. Theo quy đính của pháp luật tổ tụng dân sự Việt Nam thi chứng cứ trong vụ việc dân sự có ba thuộc tính cơ bản sau đây: - Thứ nhất, tính khách quan: Điều kiện dau tiên để có thể trở thành chứng cử đó phải là những gì có ‘that, tôn tai khách quan và không lê thuộc vao ý thức của con người. Hay nói cách khác, con người có thé tim ra chứng cứ để thu thập chứ không thé tạo ra.
chứng cứ cũng như thay đổi, bóp méo chứng cứ theo ý chí chủ quan của trình, Chứng cử tôn tai khách quan dưới nhiều hình thức khác nhau, đó có thể {a tai liêu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liêu điên t, vật chứng, lời khai của đương sự hoặc của người lãm chứng, kết luận giám định Tuy nhiên, không phải bắt kỹ tai liêu, dữ liêu, lời khai, văn bản nào cũng được xem là chứng cứ và được sử dung để giải quyết vụ việc dân sự ma phải đáp ứng một sé điều kiện nhất định được quy định cụ thé tại Điều 95 Bộ luật Tổ tụng Dân sự năm 2015. Vi du như trường hợp tải liệu đọc được muốn được xem là chứng cứ néu la bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận, vật chứng muốn được xem la chứng cứ thì phải lé hiện vat gốc liên quan đến vụ việc - Thứ hai, tính liên quan: ˆ Đền 93,Bổ hật Tổ ng Din sự Việt Nơa 2015 10 Trong thực tế khách quan luôn tổn tại da dang các tinh tiết, sự kiện nhưng chỉ những tinh tiết, sự kiên có liên quan mắt thiết đến vụ việc ma Toa án đang giải quyết mới được xem la chứng cứ Chính sự liên hệ biện chứng giữa các chứng cứ với sư kiên pháp lý (đôi tượng chứng minh) giúp chủ thể tham ga tổ tung nhận thức được thực tế khách quan của vụ việc dân sự. Tinh liên quan của chứng cứ có thé la trực tiếp hoặc gián tiếp khi ma từ chứng cứ đó Tòa an có thể rút ra kết luân một sự kiện pháp lý khách quan có tôn tại hay không, Hoặc chứng cứ có thé mang tính liên quan gián tiép khi nó không trực tiếp chứng minh cho sự kiện pháp lý chính ma lại nhằm chứng minh những sư kiện trung gian khác va đựa vào những sự kiện trung gian này cho phép suy doan về sự tổn tại của sự kiên pháp lý chính. - Thứ ba, tính hợp pháp: Chứng cứ phải được thu thập, xuất trình, giao nộp theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định Chứng cứ có thể do đương sw (bao gồm nguyên đơn, ‘bi đơn, người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan) hoặc do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác tự mình thu thập rồi giao nôp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tổ tung.
Ngoài ra, chứng cứ còn có thể do Tòa án tién hành thu thập được thông qua nhiêu biện pháp như lay lời khai, định gia, thẩm định. Tuy nhiên, di việc thu thập chứng cứ được thực hiện béi chủ thể nao thủ déu phải tuân thi theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tô tung Dân sự quy định. Trong trường hợp thông tin được thu thập, giao nộp, xuất trình, cung cấp không theo luật định như suất phát từ những nguồn bi pháp luật hạn chế hoặc do vi phạm pháp luật thi thông tin đó sé không được thừa nhân là chứng cứ cũng nhưng không thé được sử đụng lam căn cử để giải quyết vu việc. Chứng cứ với ba thuộc tính cơ ban: tính khách quan, tính hợp pháp và tính liên quan vén lả một thể thông nhất không thể tách rời, có mối quan hệ biên chứng, tác đông qua lại lẫn nhau.
Trong đó, tính khách quan va tính liên "1 quan la điểu kiện cẩn có của chứng cử, được xem la yếu tô tiên để khi đặt trong mồi quan hệ với các thuôc tinh còn lại, còn tinh hợp pháp là cơ sở pháp lý của tính khách quan. Như vây, chỉ những thông tin, tai liệu, sự vật phản ánh sự thật khách quan, có mdi liên hệ với vụ việc dân sự, đã được thu thập, cung cấp theo đúng quy đính pháp luật mới được xác định là chứng cứ và mang giá trị chứng minh đổi với vụ việc. Khái niệm, đặc điểm va vai trò của hoạt động cung cấp chứng cứ 1. Khái niệm hoạt động cung cấp chứng cit Chứng cứ là một trong những van dé có tính quan trong hang đầu trong việc làm sáng t8 sự that khách quan của sự việc, bao vệ quyển lợi hợp pháp của các đương sự.
Trong pháp luật Việt Nam, ở giai đoạn đầu tiên hình thảnh chế định điều tra vụ án dan sự, việc thu thép chứng cứ, nghĩa vụ thu thập chứng cứ, lập hồ sơ vụ án chi thuộc về Tòa án mà đại diện là Chánh án, cụ thể, Thông tư số 14L/HCTP ngày 05 tháng 12 năm 1957 của Bộ Tw pháp quy đính về tổ chức. và phân công trong nội bộ Tòa án đã quy dink "đối với những vụ án dân sue ông Chánh án cô nhiém vụ điều tra, lập hỗ sơ vụ an". 'Việc đương sư đưa ra yêu cầu phải xuất trình chứng cứ chứng minh cho yên câu của mình, được quy định tại Thông tư số 06/TATC ngày 25 tháng 02 năm 1974 của Toa án nhân dân tôi cao hướng dẫn điều tra trong tổ tung dân. sư nêu rõ “Cúc đương sự có quyền đề xuất những yêu cầu và bảo vệ những quyén lợi hợp pháp của minh.