Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE ÁN PHI DAN SỰ SƠ THÂM 1. KHÁI NIỆM VA Y NGHĨA CUA ÁN PHÍ DAN SU SƠ THAM 1.Khái niệm án phí dân sự sơ thắm Theo Dai từ điển tiếng Việt do nhà xuất bản văn hóa thông tin năm 1998 thì: Án phí được hiểu như sau: “ An phí là số tiền chi phi cho việc xét xử mot vụ án ”[18, tr. Nếu định nghĩa án phí dân sự theo Đại từ điển tiếng Việt thì không thé hiện được ban chất của việc thu án phi dân sự. Mục dich của án phí dân sự là dé đương sự có trách nhiệm đóng góp một khoản tiền nhất định, hop ly cho Nhà nước khi Tòa án tiễn hành giải quyết các vụ án dân sự, chứ không phải buộc đương sự trả toàn bộ chi phí cho việc Tòa án giải quyết một vụ án dân sự.
Tùy theo tính chất của mỗi loại vụ án, hay thời điểm nhất định, pháp luật quy định đương sự nộp tiền án phí dân sự cho phù hợp. Hơn nữa nếu hiểu đơn thuần án phí “!à số tiền chi phi cho việc xét xử một vụ án” thì an phi dân sự của các vụ án dân sự phải thu khác nhau theo từng vụ án. Theo từ điển Luật học thì án phí được hiểu như sau: “ An phí là khoản chỉ phí vé xét xử một vụ án mà đương sự phải nộp trong mỗi vụ án do cơ quan có thẩm quyên quy định” [ 19, tr 13 ]. Như vậy, theo định nghĩa này thì án phí cũng là khoản tiền chi phí về xét xử một vụ án mà đương sự phải nộp trong mỗi vụ án nhưng do cơ quan có thẩm quyền quy định.
Căn cứ vào tính chất của mỗi loại vụ án mà cơ quan có thẩm quyền quy định số tiền án phí dân sự đương sự phải nộp mà không căn cứ vào chi phí thực cho việc giải quyết một vụ án dân sự cụ thé. Trên cơ sở của các quy định này của cơ quan có thâm quyền mà Tòa án quyết định số tiền án phí đương sự trong mỗi vụ án dân sự cụ thể phải nộp. Vì vậy, chúng tôi cho rằng giải thích của từ điển Luật học là phù hợp hơn cả. Cũng theo Dai từ điển tiếng Việt thì “Dán sự” được hiểu: 1.
Việc có liên quan tới dân nói chung; 2. Nhân dân, trong mối quan hệ với người cầm quyên; 3. Phạm vi xét xử của Tòa án như quan hệ tài sản, hôn nhân, gia đình; phân biệt với hình sự; 4. Thuộc việc của dân phân biệt với các việc của quân sự [ 18tr.
Như vậy, thuật ngữ “đán sv” dùng dé chỉ những van đề thiết yếu, liên quan đến đời sống người dân, phân biệt với hình sự và dé phân biệt với những van đề khác trong mối quan hệ với Nhà nước. “Sơ thẩm” là “xét xử lần dau một vụ án ở cấp thấp nhất ”. Tùy theo tính chất của từng loại các vụ việc phát sinh tại Tòa án mà có sơ thâm hình sự, sơ tham dân sự, sơ thâm hành chính. Trong đó, thuật ngữ sơ thấm dân sự dùng dé chỉ hoạt động xét xử lần đầu đối với vụ án dân sự.
Theo quy định tại Điều 1 BLTTDS thì vụ việc dân sự bao gồm: Vụ án dân sự và việc dân sự. Vụ án dân sự là các tranh chấp dân sự phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được Tòa án thụ lý giải quyết. Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tô chức khác; yêu cầu Toà án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Theo tiến sĩ Bùi Thị Huyền, sơ thâm dân sự, dưới góc độ pháp lý là việc giải quyết lần đầu một vụ việc dân sự, bao gồm các hoạt động khởi kiện, thụ lý, hòa giải, chuẩn bị xét xử, và mở phiên tòa sơ thâm dân sự.
Phiên tòa sơ thầm dân sự là khâu cuối cùng của sơ thâm dân sự và tại đó Tòa án sẽ xét xử để ra phán quyết về vụ việc dân sự [ 28, tr. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý để giải quyết một vụ án dân sự ở cấp sơ thâm không phải mọi trường hợp Tòa án đều phải thực hiện việc xét xử. Việc giải quyết vụ án dân sự ở cấp sơ thâm phải trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau. Khởi kiện là hành vi đầu tiên của cá nhân, cơ quan,tô chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.
Tuy vậy, quyền khởi kiện của các chủ thê chỉ làm phát sinh nghĩa vụ thụ lý vụ án của Tòa án khi việc khởi kiện tuân thủ đúng và đủ các điều kiện khởi kiện (Về nội dung, hình thức đơn khởi kiện và đặc biệt là phải nộp tạm ứng án phí). Việc xem xét, thụ lý đơn khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tô chức chính là sự bảo đảm của Nhà nước đối với việc thực hiện các quyền dân sự của các chủ thé đã được pháp luật ghi nhận. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, thông qua quá trình hòa giải, có thê đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án và rút đơn khởi kiện, Tòa án ra quyết đình chỉ giải quyết vụ án. Có vụ án đương sự thỏa thuận giải quyết toàn bộ vụ án, Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự.
Như vậy kết thúc quá trình và đương sự cũng vẫn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Dưới góc độ triết học và ldgic học, khái niệm là “ Hình thức cơ bản của tu duy, trong đó phản ánh các dấu hiệu khác biệt cơ bản của sự vật riêng biệt hay lớp sự vật hiện tượng nhất định” [ 28, tr. Vì vậy, dé đưa ra khái niệm án phí dân sự sơ thâm, thì cần phải làm rõ đặc điểm của nó, đồng thời so sánh với án phí dân sự phúc thẩm và án phí hình sự sơ thâm, hành chính sơ thẩm. - Án phí dân sự sơ thâm khác với án phí dân sự phúc thâm.
Do tính chất của việc xét xử sơ thâm dân sự là xét xử lần đầu vụ án dân sự, đồng thời phải xem xét, đánh giá toàn bộ nội dung vụ án và ra phán quyết lần đầu đồng thời giải quyết tất cả vẫn đề của vụ án, nên có thê nói trình tự sơ thâm là “thước đo” của việc quy định mức án phí cũng như nghĩa vụ chịu án phí. Mặc dù tổ tụng dân sự có quy định nguyên tắc xét xử hai cấp, song tính chất của việc xét xử phúc thâm là xem xét những nội dung có kháng cáo, kháng nghị, đồng thời tiến trình tố tụng cũng không quy định các trình tự bắt buộc như thủ tục sơ thẩm nên việc xem xét án phí cũng chi đặt ra đối với chủ thé có kháng cáo và cũng chỉ thu theo một số tiền nhất định. Đối với việc xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thâm thì pháp luật không quy định thu án phí dân sự, vì thủ tục giám đốc thầm, tái thâm được thực hiện trên cơ sở kháng nghị của chủ thể có thẩm giám đốc việc xét xử, kiểm sát việc xét xử theo quy định của pháp luật. Tuy vậy, khi xem xét bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thâm, tái thâm hội đồng giám đóc thâm, tái thâm vẫn phải xử lý án phí dân sự sơ thâm, phúc thâm theo quy định của pháp luật.
Như vậy có thể thấy án phí dân sự sơ thâm là nội dung chủ yếu của chế định án phí. - Án phí dan sự sơ thâm khác với án phí hình sự sơ thẩm: Xuất phát từ ban chất của vụ án dân sự là việc khởi kiện chủ yếu là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân đương sự, trừ một số trường hợp liên quan đến lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước. Nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự thuộc về đương sự, quá trình giải quyết vụ án cũng phụ thuộc vào yêu cầu của đương sự, nên pháp luật quy định đương sự có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí và mức án phí cũng khác nhau tùy theo tính chất của vụ việc. Trái với vụ án dân sự, đối với vụ án hình sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc vỀ cơ quan tiễn hành tố tụng, đồng thời trách nhiệm của các Bị cáo là trách nhiệm đối với Nhà nước, tiến trình giải quyết vụ án phụ thuộc vào quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng (Trừ trường hợp một số vụ án khởi tố theo yêu cầu của Người bị hại) nên pháp luật quy định bị cáo không phải nộp tạm ứng án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời mức án phí cũng chỉ quy định một mức duy nhất như vụ án không có giá ngạch của vụ án dân sự mà không phụ thuộc vào tính chất của vụ án cần giải quyết.
- An phí dân sự sơ thâm cũng khác với án phí hành chính sơ thẩm. Trong vụ án hành, người khởi kiện vụ án hành chính là người cho rằng quyết định, hành vi hành chính đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ còn người bị kiện là cơ quan quản lý Nhà nước, người có thâm quyền của cơ quan quản lý Nhà nước. Xuất phát từ tính chất của vụ án dân sự và vụ án hành chính là khác nhau, nên quy định của án phí dân sự sơ thấm và án phí hành chính sơ thâm nói chung và của từng loại vụ án nói riêng cũng khác nhau. Từ những phân tích trên chúng ta có thể đưa ra định nghĩa về án phí dân sự sơ thấm như sau: Án phí dân sự sơ thẩm là số tiền chỉ phí của đương sự phải nộp vào công quỹ Nhà nước, theo quy định của pháp luật để giải quyết lan dau một vụ án dân sự ở cấp thấp nhất và chỉ được xử lý khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.