Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chế định tài sản bảo đảm giữ vai trò trung tâm trong pháp luật dân sự Việt Nam, đóng vai trò công cụ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên có quyền và thúc đẩy sự an toàn pháp lý cho các giao dịch kinh tế, dân sự. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển, việc cá nhân, tổ chức sử dụng tài sản để bảo đảm thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ diễn ra phổ biến, tiêu biểu như hoạt động thế chấp nhà ở, quyền sử dụng đất để tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng.

Mặc dù Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 ra đời đã khắc phục nhiều vướng mắc của BLDS năm 2005, đồng thời Nghị định số 21/2021/NĐ-CP được ban hành nhằm cụ thể hóa và thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP cùng Nghị định số 11/2012/NĐ-CP, hệ thống quy định hiện hành vẫn bộc lộ những điểm chưa đồng bộ. Sự giao thoa và nguy cơ xung đột pháp luật giữa BLDS với các đạo luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hàng không dân dụng và Bộ luật Hàng hải đặt ra nhiều khó khăn trong quản lý và thực thi. Xuất phát từ thực tế đó, khóa luận xác định việc nghiên cứu quy định pháp luật về tài sản bảo đảm là yêu cầu cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn áp dụng.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về tài sản bảo đảm như khái niệm, đặc điểm pháp lý và phân loại tài sản bảo đảm.
  2. Phân tích, nghiên cứu các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan về tài sản bảo đảm, kết hợp xem xét các vấn đề phát sinh trong thực tiễn áp dụng.
  3. Đề xuất các quan điểm, giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về tài sản bảo đảm nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về tài sản bảo đảm.
  • Phạm vi nghiên cứu: Trọng tâm là các quy định của BLDS năm 2015, Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/03/2021 quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, cùng các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành có liên quan đang có hiệu lực thi hành tại Việt Nam.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở nền tảng của hệ thống pháp luật thực định Việt Nam và các công trình bình luận khoa học pháp lý:

  • Khung pháp lý trực tiếp: Hiến pháp năm 2013 (Điều 53); Bộ luật Dân sự năm 2015 (các điều khoản về tài sản, quyền sở hữu, 9 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tại Điều 292, quy định cụ thể tại các điều từ 295 đến 308); Nghị định số 21/2021/NĐ-CP; Thông tư số 21/2012/TT-NHNN; Luật Đất đai năm 2013; Luật Nhà ở năm 2014; Luật Phá sản năm 2014; Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Luật Đấu giá tài sản năm 2016. Khóa luận cũng đối chiếu lịch sử lập pháp qua BLDS năm 1995 (Điều 172, Điều 181), BLDS năm 2005 (Điều 320, 321, 322) và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP.
  • Tài liệu học thuật trích dẫn: Định nghĩa tài sản theo Từ điển Bách khoa Việt Nam (2010), Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 1994); quan điểm học thuật của PGS. Nguyễn Ngọc Điện về việc xây dựng khái niệm quyền tài sản; công trình "Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2015" của PGS. Nguyễn Văn Cừ và PGS.TS. Trần Thị Huệ.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống:

  • Phương pháp phân tích: Mổ xẻ các khái niệm lý luận, cấu trúc quy phạm pháp luật hiện hành để làm rõ tính chất, nội hàm của tài sản bảo đảm và các điều kiện áp dụng.
  • Phương pháp lịch sử và so sánh: Rà soát quá trình phát triển của khái niệm tài sản và tài sản bảo đảm qua các thời kỳ lập pháp (1945-1954, 1954-1975, 1975-1995, BLDS 1995, BLDS 2005 và BLDS 2015), qua đó chỉ ra tính kế thừa và những điểm đổi mới của hệ thống văn bản hiện hành.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các vướng mắc, bất cập từ các quy định cụ thể nhằm xây dựng cơ sở lập luận cho các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tài sản bảo đảm

Chương 1 tập trung làm rõ bản chất pháp lý của tài sản và tài sản bảo đảm từ góc độ lý luận khoa học luật dân sự. Khái quát tiến trình lịch sử cho thấy, từ sau năm 1945 đến trước BLDS năm 1995, khái niệm tài sản trong pháp luật Việt Nam gần như không có sự thay đổi đột phá. Đến BLDS năm 1995, tài sản được phân chia thành vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản (Điều 172), đồng thời phân loại thành động sản và bất động sản (Điều 181). BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015 tiếp tục hoàn thiện, xác định tài sản bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

Trên cơ sở phân tích khái niệm "bảo đảm" (sự cam kết thực hiện công việc, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì phải chịu trách nhiệm), tác giả đưa ra định nghĩa: Tài sản bảo đảm là tài sản mà cá nhân, tổ chức đưa ra để bảo đảm rằng chắc chắn sẽ thực hiện một nghĩa vụ nào đó đúng như những gì đã cam kết.

Về mặt lý luận, tài sản bảo đảm mang 5 đặc điểm pháp lý cơ bản:

  1. Phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm: Quyền sở hữu là căn cứ xác lập quyền định đoạt tài sản để bảo đảm nghĩa vụ của chính mình hoặc của người khác (trừ trường hợp ngoại lệ do luật định).
  2. Là tài sản không bị cấm giao dịch: Nhằm bảo đảm khả năng chuyển nhượng khi phải xử lý tài sản để thu hồi nợ.
  3. Có thể được mô tả chung nhưng phải xác định được (tính xác định): Đối tượng hợp đồng phải xác định rõ về mặt vật lý, chủ thể nắm giữ, tình trạng pháp lý (không có tranh chấp, không bị kê biên). Tài sản phải có khả năng chuyển giao trong giao lưu dân sự, không gắn liền với nhân thân hay yếu tố tâm linh.
  4. Tính giá trị của tài sản: Bên nhận bảo đảm hướng tới giá trị kinh tế của tài sản chứ không thuần túy là hình thái tồn tại; quyền của bên nhận bảo đảm không bị chấm dứt khi tài sản biến động cơ học và có quyền truy đòi tài sản.
  5. Thuộc tính bảo đảm của tài sản: Khi có vi phạm nghĩa vụ xảy ra, tài sản được xử lý để bù đắp, bồi thường cho bên nhận bảo đảm nhưng vẫn phải tính đến việc không triệt tiêu hoàn toàn điều kiện đời sống tối thiểu của bên bảo đảm.

Về phân loại tài sản bảo đảm, tác giả hệ thống hóa thành ba tiêu chí chính:

Tiêu chí phân loại Các nhóm tài sản Đặc điểm pháp lý theo văn bản
Theo hình thức tồn tại 1. Tiền
2. Vật
3. Giấy tờ có giá
4. Quyền tài sản
- Tiền: dùng trong ký quỹ, đặt cọc, ký cược.
- Vật: phương tiện giao thông, máy móc, vật liệu.
- Giấy tờ có giá: trái phiếu, cổ phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi.
- Quyền tài sản: quyền sở hữu trí tuệ, quyền đòi nợ, quyền sử dụng đất, quyền khai thác tài nguyên.
Theo đặc tính vật lý và công dụng 1. Động sản
2. Bất động sản
- Động sản: vật tự di chuyển hoặc không tự di chuyển được (không phải bất động sản).
- Bất động sản: đất đai, nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất và các tài sản khác gắn liền vĩnh viễn với đất đai.
Theo thời điểm hình thành 1. Tài sản hiện có
2. Tài sản hình thành trong tương lai
- Hiện có: đã hình thành và xác lập quyền sở hữu trước hoặc tại thời điểm giao dịch.
- Tương lai: chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng xác lập quyền sở hữu sau thời điểm giao dịch.

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật hiện hành về tài sản bảo đảm

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định, chỉ ra rằng trong 9 biện pháp bảo đảm tại Điều 292 BLDS năm 2015, có 7 biện pháp trực tiếp sử dụng tài sản gồm: cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản. Tuy nhiên, BLDS năm 2015 không dành riêng điều khoản nào để định nghĩa trực tiếp "tài sản bảo đảm" mà chỉ quy định khái quát tại Điều 295, thay vì sử dụng 3 điều luật mang tính liệt kê cơ học (Điều 320, 321, 322) như BLDS năm 2005.

Nghị định số 21/2021/NĐ-CP đã có bước tiến lớn khi dành riêng Điều 8 quy định 4 nhóm tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ:

  1. Tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai (trừ trường hợp luật cấm mua bán, chuyển nhượng).
  2. Tài sản trong hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu (Điều 453 BLDS năm 2015).
  3. Tài sản thuộc đối tượng của nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ bị vi phạm trong biện pháp cầm giữ (Điều 346 BLDS năm 2015).
  4. Tài sản thuộc sở hữu toàn dân trong trường hợp pháp luật liên quan có quy định (Điều 197 BLDS năm 2015, Hiến pháp năm 2013 và Luật Đất đai năm 2013).

Về điều kiện của tài sản bảo đảm, Điều 295 BLDS năm 2015 xác định các điều kiện:

  • Phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm (trừ trường hợp bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản).
  • Có thể được mô tả chung nhưng phải xác định được (Điều 9 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định cụ thể việc mô tả đối với bất động sản, động sản phải đăng ký, quyền tài sản và tài sản hình thành trong tương lai).
  • Có thể là tài sản hiện có hoặc hình thành trong tương lai (khoản 2 Điều 108 BLDS năm 2015 mở rộng khái niệm tài sản tương lai so với Điều 320 BLDS năm 2005).
  • Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm (khoản 4 Điều 295 BLDS năm 2015 và Điều 12 Thông tư số 21/2012/TT-NHNN).
  • Phải là tài sản được phép giao dịch và không thuộc trường hợp bị kê biên thi hành án (Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2008).

Về xử lý tài sản bảo đảm, tác giả phân tích căn cứ xử lý (Điều 299 BLDS năm 2015), nghĩa vụ thông báo xử lý trong "thời hạn hợp lý" (Điều 300), nghĩa vụ giao tài sản (Điều 301) và các phương thức xử lý theo Điều 303: bán đấu giá (theo Luật Đấu giá tài sản năm 2016), bên nhận bảo đảm tự bán tài sản (ngoại lệ của Điều 195 BLDS năm 2015), và bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế nghĩa vụ (Điều 305 BLDS năm 2015, Điều 59 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP).

Đối với trường hợp một tài sản bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ (Điều 296 BLDS năm 2015), điều kiện bắt buộc là giá trị tài sản phải lớn hơn tổng các nghĩa vụ (trừ khi có thỏa thuận khác) và mỗi lần bảo đảm phải lập thành văn bản, thông báo cho bên nhận bảo đảm sau. Về thứ tự ưu tiên thanh toán, Điều 308 BLDS năm 2015 thiết lập nguyên tắc rõ ràng:

Thứ tự ưu tiên Căn cứ xác lập (Điều 308 BLDS năm 2015) Quy định cụ thể
Ưu tiên 1 Thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng với người thứ ba Áp dụng khi các bên đều có hiệu lực đối kháng (tính theo thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc thời điểm nắm giữ/chiếm giữ tài sản theo Điều 297 BLDS và Điều 23 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP).
Ưu tiên 2 Giữa biện pháp có và không có hiệu lực đối kháng Biện pháp bảo đảm nào đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba sẽ được thanh toán trước biện pháp chưa phát sinh hiệu lực đối kháng.
Ưu tiên 3 Thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm Áp dụng khi tất cả các biện pháp bảo đảm đều không phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba (biện pháp nào xác lập trước được thanh toán trước).

Chương 2 kết luận bằng việc đánh giá 5 ưu điểm nổi bật của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP (áp dụng phương pháp loại trừ, làm rõ khái niệm tài sản gắn liền với đất, quy định tài sản dự án đầu tư/quyền bề mặt/quyền hưởng dụng, mở rộng phạm vi xử lý tài sản ra mọi biện pháp, cho phép xử lý theo thỏa thuận không cần ủy quyền). Song song đó, tác giả chỉ ra 7 bất cập thực định:

  1. Thiếu định nghĩa trực tiếp về tài sản bảo đảm trong văn bản luật.
  2. Giới hạn phạm vi cầm giữ tài sản chỉ trong hợp đồng song vụ bị vi phạm (chưa bao quát các quan hệ nghĩa vụ khác mà bên có nghĩa vụ cố tình vi phạm).
  3. Quy định mô tả tài sản hình thành trong tương lai còn mang tính tương đối, dễ dẫn đến tranh chấp.
  4. BLDS năm 2015 chưa minh định danh mục hoặc tiêu chí loại tài sản nào tuyệt đối cấm đưa vào giao dịch bảo đảm.
  5. Chưa lượng hóa khái niệm "thời hạn hợp lý" trong thông báo xử lý tài sản bảo đảm (Điều 300 BLDS năm 2015).
  6. Quy định yêu cầu Tòa án can thiệp khi không được bàn giao tài sản (Điều 301) là quyền hiển nhiên, nhưng lại chưa ghi nhận dứt khoát quyền chủ động thu giữ tài sản của bên nhận bảo đảm.
  7. Thiếu cơ chế thanh toán số tiền xử lý tài sản đối với các biện pháp bảo đảm khác ngoài cầm cố và thế chấp.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về tài sản bảo đảm và một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện

Dựa trên bố cục đề tài, Chương 3 phản ánh thực tiễn áp dụng pháp luật về sử dụng tài sản bảo đảm tại Việt Nam, đặc biệt trong các hợp đồng tín dụng và xử lý nợ xấu tại các tổ chức tín dụng. Các vướng mắc thực tế chủ yếu phát sinh từ việc định giá tài sản, chuyển giao tài sản bảo đảm khi bên bảo đảm trốn tránh hoặc chống đối, và sự thiếu đồng bộ khi xử lý tài sản là dự án đầu tư hay bất động sản hình thành trong tương lai.

Từ những bất cập đã phân tích ở Chương 2 và thực tế áp dụng, tác giả xây dựng nhóm giải pháp và kiến nghị hoàn thiện:

  • Bổ sung định nghĩa pháp lý chính thức về "tài sản bảo đảm" vào văn bản luật dân sự để tạo tính thống nhất trong diễn giải áp dụng.
  • Sửa đổi quy định về biện pháp cầm giữ tài sản, mở rộng đối tượng áp dụng vượt ra ngoài phạm vi hợp đồng song vụ nhằm bảo vệ bên có quyền khi bên có nghĩa vụ cố tình trốn tránh.
  • Hướng dẫn định lượng rõ ràng cụm từ "thời hạn hợp lý" tại Điều 300 BLDS năm 2015, có thể phân hóa cụ thể theo tính chất tài sản là động sản hay bất động sản.
  • Quy định chi tiết cơ chế thu giữ tài sản bảo đảm hợp pháp cho bên nhận bảo đảm khi bên bảo đảm không hợp tác, đồng thời hoàn thiện quy chế thanh toán tiền xử lý tài sản áp dụng chung cho tất cả các biện pháp bảo đảm bằng tài sản.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng kết và đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với hệ thống dữ liệu pháp luật thực định:

  • Khái quát hóa quá trình phát triển của khái niệm tài sản qua các giai đoạn lịch sử lập pháp dân sự Việt Nam (1945 đến nay) và xây dựng định nghĩa khoa học về tài sản bảo đảm dựa trên bản chất cam kết nghĩa vụ.
  • Thống kê và phân tích cấu trúc điều chỉnh của BLDS năm 2015 với 7/9 biện pháp bảo đảm trực tiếp sử dụng tài sản; đồng thời làm rõ 4 nhóm tài sản bảo đảm được quy định mới tại Điều 8 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP.
  • Làm sáng tỏ 5 điều kiện luật định đối với tài sản bảo đảm theo Điều 295 BLDS năm 2015 và các trường hợp xử lý tài sản theo Điều 299, Điều 303.
  • Hệ thống hóa các quy tắc giải quyết xung đột quyền lợi giữa các bên cùng nhận bảo đảm trên một tài sản theo 3 bậc ưu tiên thanh toán tại Điều 308 BLDS năm 2015.
  • Đóng góp khoa học của tác giả thể hiện ở việc chỉ rõ 7 điểm nghẽn quy phạm từ BLDS năm 2015 và Nghị định số 21/2021/NĐ-CP (như khái niệm "thời hạn hợp lý", quyền thu giữ tài sản, phạm vi biện pháp cầm giữ), từ đó đặt nền móng cho các đề xuất sửa đổi lập pháp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có phạm vi tiếp cận tập trung chủ yếu vào các quy phạm của Bộ luật Dân sự năm 2015 và văn bản hướng dẫn thi hành (trọng tâm là Nghị định số 21/2021/NĐ-CP). Do khuôn khổ nghiên cứu của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, đề tài chưa mở rộng khảo sát chuyên sâu đối với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quốc tế hoặc so sánh pháp luật chuyên biệt về giao dịch bảo đảm của các quốc gia theo hệ thống Thông luật (Common Law) hay Dân luật (Civil Law).

Hướng nghiên cứu mở rộng cần tập trung vào việc giải quyết xung đột thực tế giữa quy định về tài sản bảo đảm trong BLDS năm 2015 với pháp luật chuyên ngành ngân hàng, thị trường chứng khoán, đất đai và tố tụng dân sự khi xử lý tài sản thế chấp là dự án bất động sản phức hợp.

Giá trị tham khảo

Công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự và Kinh tế: Nắm bắt toàn diện hệ thống lý luận và thực trạng pháp lý về chế định tài sản bảo đảm, đặc biệt là các quy định mới của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP thay thế Nghị định số 163/2006/NĐ-CP.
  • Cán bộ pháp chế, luật sư, chuyên viên xử lý nợ tại các tổ chức tín dụng: Tham khảo các phân tích chuyên sâu về điều kiện tài sản bảo đảm, nguyên tắc xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận và cơ chế xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi nhận bảo đảm trùng lặp.
  • Phần nội dung đáng chú ý nhất: Mục phân tích điều kiện tài sản bảo đảm (Chương 2), cơ chế thực thi quyền ưu tiên thanh toán theo Điều 308 BLDS năm 2015, và tổng hợp 7 bất cập pháp lý của hệ thống quy định hiện hành.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của pháp luật hiện hành, có bao nhiêu biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trực tiếp sử dụng tài sản?
Trong số 9 biện pháp bảo đảm được quy định tại Điều 292 BLDS năm 2015, có 7 biện pháp trực tiếp sử dụng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu và cầm giữ tài sản.

2. Tài sản bảo đảm bắt buộc phải có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm hay không?
Không bắt buộc. Căn cứ khoản 4 Điều 295 BLDS năm 2015 và Điều 12 Thông tư số 21/2012/TT-NHNN, giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm, tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch.

3. Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định tài sản dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm những loại nào?
Tại Điều 8 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP quy định 4 nhóm: (1) Tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai (trừ trường hợp luật cấm mua bán, chuyển nhượng); (2) Tài sản trong hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu; (3) Tài sản thuộc đối tượng của nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ bị vi phạm trong biện pháp cầm giữ; (4) Tài sản thuộc sở hữu toàn dân trong trường hợp pháp luật liên quan có quy định.

4. Khi một tài sản được dùng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ, thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm được xác định thế nào?
Theo Điều 308 BLDS năm 2015, thứ tự thanh toán được xác định: (1) Ưu tiên theo thứ tự xác lập hiệu lực đối kháng với người thứ ba (tính theo thời điểm đăng ký biện pháp bảo đảm hoặc thời điểm nắm giữ/chiếm giữ tài sản); (2) Nghĩa vụ có hiệu lực đối kháng được ưu tiên thanh toán trước nghĩa vụ không có hiệu lực đối kháng; (3) Nếu các biện pháp đều không có hiệu lực đối kháng, ưu tiên thanh toán theo thứ tự xác lập biện pháp bảo đảm.

5. Điểm mới căn bản của Nghị định số 21/2021/NĐ-CP trong cơ chế xử lý tài sản bảo đảm là gì?
Nghị định sử dụng thuật ngữ chung "xử lý tài sản bảo đảm" thay vì giới hạn phạm vi "trong cầm cố, thế chấp" như Nghị định số 163/2006/NĐ-CP; đồng thời quy định bên nhận bảo đảm được chủ động thực hiện việc xử lý theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm mà không bắt buộc phải có văn bản ủy quyền hay văn bản đồng ý của bên bảo đảm.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thanh Chuyền đã phân tích có hệ thống các vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh về tài sản bảo đảm tại Việt Nam. Công trình làm rõ những điểm hoàn thiện tích cực của BLDS năm 2015 cùng Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, đặc biệt trong việc chuẩn hóa điều kiện tài sản và cơ chế ưu tiên thanh toán. Đồng thời, khóa luận đã nhận diện xác đáng các bất cập quy phạm còn tồn tại liên quan đến quyền thu giữ tài sản, tính xác định của tài sản tương lai và phạm vi biện pháp cầm giữ, qua đó cung cấp các luận cứ khoa học hữu ích phục vụ quá trình hoàn thiện pháp luật dân sự thực định.