Chương 1 MỘT SÓ VÁN ĐÈ LÝ LUẬN CHUNG VE ĐỊNH ĐOẠT TÀI SAN CHUNG CUA VO CHONG 1. Khái niệm định đoạt tài san chung của vợ chồng 1. Khái niệm tài sản Điều 105 của BLDS năm 2015 đã đưa ra định nghĩa về tài sản. Theo đó, tai sản được định nghĩa như sau: “Tai sản là vật, tiễn, giấy tờ có giá và quyên tài sản; tài sản bao gom bat động sản và động sản” [23].
Đây là cách định nghĩa tài sản mang tính chất liệt kê chứ không mang tính khái quát. Khái niệm về tài sản của BLDS năm 2015 đã có sự thay đi, bổ sung so với BLDS năm 2005. So với quy định tại Điều 163 BLDS năm 2005 thì BLDS năm 2015 lại bổ sung nội dung khái quát về tài sản bao gồm bat động sản và động sản (có thé là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai) - đây là một điểm mới về định nghĩa tài sản. Tài sản theo phương pháp liệt kê sẽ bao gồm có các tài sản sau: Tài sản là vật.
Vật là một phần của thế giới vật chất, tồn tại độc lập và khách quan. Gia tri của một vật thường phát sinh khi nó được sử dụng như một phần trong các quan hệ pháp luật. Không khí, gió, và mưa là những vật thê tồn tại trong thế giới vật chất, nhưng chúng không được coi là tài sản từ góc độ pháp lý. Bởi lẽ, tài sản là đối tượng trong quan hệ pháp luật, và chỉ những vật thé có thé đáp ứng được lợi ích của các bên chủ thé trong quan hệ mới được coi là tài sản.
Như vậy, muốn trở thành vật trong dân sự phải đáp ứng những điều kiện sau: Thứ nhất, là bộ phận của thế giới vật chất: đây là một điều kiện không thể thiếu để trở thành vật trong giao lưu dân sự, đồng thời ta cũng có thé coi đó là sự khác nhau giữa “vat” và “quyên tài san”; Thứ hai, con người phải chiếm hữu được. Chỉ khi con nguoi chiếm hữu được nó thì nó mới được coi là vật; Thứ ba, mang lại lợi ích cho chủ thể và phải có đặc trưng giá tri. Trong thực tẾ, chúng ta có thể gặp một sé trường hợp mà một vat mà con người có thể chiếm hữu được nhưng nó không được coi là “vật” trong giao lưu dân sự. Ví dụ như: chiếc lá hay viên đá.
các vật này tuy có thê chiếm hữu được song vì nó không mang lại lợi ích cho chủ thể và không mang đặc trưng giá trị do đó không thể coi là một vật trong giao lưu dân sự. Như vậy, các đối tượng này trở thành tài sản trong giao lưu dân sự khi chúng có khả năng mang lại lợi ích và có giá trị đối với chủ thé sở hữu; Thứ tư, có khả năng nó đang tổn tại hoặc sẽ xuất hiện trong tương lai. Vật có thực là các đối tượng đã tồn tại vào thời điểm hiện tại và đã có quyền sở hữu xác định cho chủ sở hữu của chúng. Trong khi đó, vật hình thành trong tương lai đề cập đến các đối tượng chưa tồn tại hoặc chưa hoàn thiện vào thời điểm xem xét, nhưng chắc chắn sẽ tồn tại hoặc hoàn thiện trong tương lai.
Ví dụ, một dự án xây dựng tòa nhà cao tang đang được chuẩn bị dé bắt đầu công trình, hoặc một cầu đang trong quá trình xây dựng và chưa hoàn thành. Cả hai trường hợp này có thé được xem xét trong giao dich dân sự như là những đối tượng sẽ hình thành trong tương lai khi chúng hoàn thiện. Tài sản là tiền. Theo quan điểm của Karl Marx, tiền tệ được xem là một loại hàng hóa đặc biệt, nó được tách ra khỏi thế giới hàng hóa chung, và được sử dụng để đo lường và biểu hiện giá tri của tất cả các loại hàng hóa khác.
Tiền tệ trực tiếp thể hiện lao động xã hội và phản ánh quan hệ sản xuất giữa các người sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, trong BLDS 2015, tiền được coi là một loại tài sản, nhưng không có quy định cụ thể nêu rõ bản chất pháp lý của tiền. Chỉ loại tiền có giá trị đang được lưu hành trên thực tế và được công nhận bởi pháp luật, nó mới được coi là tài sản theo quy định của luật. Tiền theo kinh tế chính trị học là một loại tài sản đặc biệt có vai trò như một thước đo giá trị cho các tải sản khác.
ĐỀ coi một tài sản là tiền hiện nay, nó phải có giá trị và đang được sử dụng và lưu hành trong thực tế. Tiền được xem như một dang đặc biệt của tài sản và thường được sử dụng làm cơ sở dé định giá toàn bộ tai sản của một chủ thé trong các quan hệ pháp luật dân sự. Loại tài sản này có những đặc điểm pháp lý khác với vật, được thé hiện ở những mặt sau: Các tài sản vật như nhà cửa hay xe cộ., có thể được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu cụ thê và khai thác công dụng hữu ích trực tiếp từ chúng. Trong khi đó, tiền không thể được sử dụng dé thỏa mãn nhu cầu trực tiếp mà thường phải được quy đổi thành các hàng hóa hoặc dịch vụ khác dé có giá trị sử dụng.
Tiền thực hiện ba chức năng chính: Là công cụ thanh toán da nang; là công cụ tích lũy giá tri; là công cụ định giá. Khác với các tài san là vật, tiền thường do nhà nước độc quyền phát hành và quản lý. Tài sản là giấy tờ có giá. Là giấy tờ trị giá được bằng tiền và có khả năng chuyên giao được trong các giao dich dân sự.
Xét về mặt hình thức giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định. Nội dung thê hiện trên giấy tờ có giá thường phản ánh quyền sở hữu tài sản, và giá trị của giấy tờ này tương ứng với giá trị quyền sở hữu tài sản. Quyền này được pháp luật bảo vệ và giấy tờ có giá có tính thanh khoản, có thé dé dàng chuyển nhượng với điều kiện chuyên nhượng phải là toàn bộ một lần. Việc chuyên nhượng một phần giấy tờ có giá thường bị coi là vô hiệu theo quy định của pháp luật.
Nếu như giấy tờ có giá được phát hành bởi một số chủ thể có thê là nhà nước, có thé là một số chủ thé khác do pháp luật quy định thì tiền lại do nhà nước độc quyên phát hành. Việc phát hành tiền được coi là một trong những biểu hiện chủ quyền mỗi quốc gia còn việc phát hành giấy tờ có giá là biéu hiện của quan hệ tín dụng thương mại. Tiền được sử dụng dé đầu tư vào kinh doanh hoặc tiêu dùng, còn việc sử dụng giấy tờ có giá không bao giờ được coi là hành vi đầu tư trực tiếp cho nhu cầu tiêu dùng. Về việc thực hiện quyền định đoạt số phận thực tế đối với 10 giấy tờ có giá cũng không bị hạn chế như việc định đoạt tiền.
Tài sản là quyén tài sản. Theo quy định tại Điều 115 của BLDS năm 2015, quyền tài sản là quyền có giá trị được xác định bằng tiền, bao gồm quyền tài sản liên quan đến đối tượng sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, và các quyền tài sản khác. Quyên tài sản hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, t6 chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình. Xét theo ý nghĩa này, quyền sở hữu (vật quyền) cũng là một loại tài sản.
Ngoài ra, năng lượng được xem là một loại vật đặc biệt. Nó không có hình dạng và không thé quan sát được nếu không có những phương tiện kỹ thuật chuyên dùng. Việc chiếm hữu và chuyển giao năng lượng được thực hiện theo một phương thức riêng [24, tr. Tài sản chung của vợ chong 1.
Khải niệm Theo quy định tại Điều 213 của Bộ Luật Dân sự (BLDS) năm 2015 và Điều 33 của Luật HN&GD thì TSCCVC được hiểu là bao gồm: tài sản do vợ và chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; thu nhập mà họ thu được từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoạt động đầu tư, hoặc lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên; thu nhập hợp pháp khác mà họ thu được trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ và chồng được thừa kế chung hoặc được tặng chung; tài sản mà vợ chồng thỏa thuận xác định là tài sản chung của họ. TSCCVC không bao gồm tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng, hoặc thu được thông qua các giao dịch sử dụng tài sản riêng của vợ, chồng. Nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác, việc ghi tên cả hai vợ chồng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản thuộc sở hữu chung, theo quy định của pháp luật việc đăng ký là bắt buộc. Trong 11 trường hợp chỉ ghi tên của một bên vợ hoặc chong, thì các giao dịch được thực hiện theo Điều 26 của Luật HN&GD năm 2014.
Nếu xảy ra tranh chấp về tài sản đó, thì áp dụng quy định tại khoản 3 của Điều 33 của Luật HN&GD năm 2014. Như vậy, TSCCVC được định nghĩa và xác định nội hàm dựa trên bản chất của tài sản nói chung. Vợ chồng, giống như bat kỳ chủ thé nào khác, có quyền sở hữu đối với các loại tài sản được pháp luật xác định cho phép sở hữu và thực hiện quyền năng của chủ sở hữu. Đặc điểm tài san chung của vợ chong Thứ nhất, TSCCVC là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia, theo quy định tại Điều 213 của BLDS.
Khái niệm “quyển sở hữu chung hợp nhất” thường chỉ tồn tại trong quan hệ HN&GD. Điều này ám chỉ răng TSCCVC được hình thành từ sự đóng góp công sức của cả hai trong thời kỳ hôn nhân hoặc do họ được tặng cho chung hoặc thừa kế chung. Vợ và chồng có quyền sở hữu tài sản chung này một cách bình đăng và có quyền ngang nhau trong việc sử dụng, quản lý và quyết định về tài sản chung. TSCCVC là tài sản thuộc sở hữu chung của cả hai người, do đó khi một bên thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá tri lớn, thi cần phải có sự đồng ý của bên còn lại.
TSCCVC có thể được phân chia trong các trường hợp như ly hôn, một bên trong vợ chồng qua đời, hoặc khi hôn nhân còn tôn tại thì có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.