Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận trong pháp luật Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lan thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Nguyễn Văn Cừ, chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự (mã số: 938.01.08) tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2023).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận từng tồn tại trong lịch sử lập pháp Việt Nam thời cận đại dưới các tên gọi như "Hợp đồng hôn nhân" hoặc "Khế ước hôn nhân". Tuy nhiên, chế định này đã vắng bóng trong các văn bản Luật Hôn nhân và Gia đình các năm 1959, 1986 và 2000 (vốn chỉ áp dụng chế độ tài sản luật định mang tính cộng đồng). Đến Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận mới chính thức được ghi nhận trở lại nhằm thể chế hoá quyền tự do định đoạt tài sản của cá nhân theo Hiến pháp năm 2013 và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Mặc dù đã được quy định trong luật thực định, chế định này mới dừng lại ở các quy định mang tính định khung và còn cứng nhắc. Thực tiễn áp dụng cho thấy số lượng các cặp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận còn rất ít. Nhiều khoảng trống và bất cập pháp lý phát sinh chưa được giải quyết thấu đáo:
- Quy định bắt buộc thoả thuận phải lập trước khi kết hôn (Điều 47 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014) làm hạn chế quyền tự định đoạt tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Vướng mắc khi xử lý văn bản thoả thuận vi phạm điều kiện hình thức theo Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 (xác định việc thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ trong quan hệ hôn nhân).
- Thiếu các căn cứ pháp lý rõ ràng về việc xử lý thoả thuận khi Tòa án ra quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
- Thiếu các quy định cụ thể về điều kiện, trình tự sửa đổi, bổ sung và căn cứ chấm dứt chế độ tài sản theo thoả thuận.
Trước thời điểm luận án được công bố, chưa có công trình khoa học nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về chế định này trên cơ sở Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 kết hợp khảo sát thực tiễn xã hội học và thực tiễn xét xử tại Tòa án.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận tại Việt Nam (có đối chiếu với pháp luật quốc tế), từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định các nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về chế độ tài sản theo thoả thuận của vợ chồng (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở lý luận và thực tiễn).
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam hiện hành về chế độ tài sản theo thoả thuận trên cơ sở đối chiếu với pháp luật một số quốc gia.
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn thực hiện và xét xử tranh chấp tại Tòa án; xác định nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế.
- Xây dựng các định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tế.
Giả thuyết nghiên cứu
Luận án đặt ra 03 giả thuyết nghiên cứu chính:
- Giả thuyết 1: Ở Việt Nam hiện nay, hệ thống lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận và pháp luật điều chỉnh chế định này chưa hoàn thiện; một số vấn đề cốt lõi về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, bản chất và cách thức điều chỉnh pháp luật chưa được làm sáng tỏ.
- Giả thuyết 2: Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận còn tồn tại nhiều khoảng trống, điểm nghẽn và bất cập, dẫn đến việc áp dụng pháp luật chưa đạt hiệu quả.
- Giả thuyết 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về chế độ tài sản theo thoả thuận chưa hiệu quả; tỷ lệ lựa chọn của người dân thấp; tồn tại tình trạng nhầm lẫn giữa chế độ tài sản theo thoả thuận với các thoả thuận phân chia tài sản trong chế độ tài sản luật định.
Câu hỏi nghiên cứu
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 06 câu hỏi:
- (i) Khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng và chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận là gì? Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận được xác định như thế nào?
- (ii) Các loại chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành gồm những loại nào và có đặc điểm gì?
- (iii) Ý nghĩa của việc quy định chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận trong đời sống pháp lý và xã hội?
- (iv) Các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận được thiết kế như thế nào?
- (v) Đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận tại Việt Nam diễn ra ra sao?
- (vi) Cần có những giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận của các quy định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận; các quy phạm pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số quốc gia; thực tiễn thực hiện và áp dụng pháp luật tại Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định của pháp luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ luật Dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến xác lập, sửa đổi, bổ sung, vô hiệu và chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận; đối chiếu so sánh pháp luật.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam; mở rộng so sánh với pháp luật của Pháp, Anh, Mỹ, Australia, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản.
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào các quy định pháp luật hiện hành (trọng tâm từ Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014); thu thập, thống kê số liệu các vụ án giải quyết tại Tòa án nhân dân trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Tác giả đã tổng thuật các công trình nghiên cứu ngoài nước theo các nhóm vấn đề:
- Về quyền tự do cá nhân và thoả thuận tiền hôn nhân: Anne Sanders trong bài viết "Private autonomy and marital property agreements" (The International and Comparative Law Quarterly) phân tích phán quyết Radmacher v Granatino tại Anh và đối chiếu với hệ thống pháp luật Đức để làm rõ quyền tự chủ cá nhân trong việc lập thoả thuận tài sản tiền hôn nhân từ thế kỷ XIX. Guy A. Debele và Susan C. Rhode với công trình "Prenuptial Agreement in the United States" nghiên cứu lịch sử pháp luật Mỹ từ chỗ không công nhận hôn ước sang xu hướng thừa nhận rộng rãi nhằm bảo vệ tài sản riêng. Jens M. Scherpe (2012) trong cuốn "Marital Agreements and Private Autonomy in Comparative Perspective" (NXB Hart) so sánh luật pháp của Anh, Wales, Úc, Áo, Bỉ, Pháp, Đức, Ireland, Hà Lan, New Zealand, Scotland, Singapore, Tây Ban Nha, Thụy Điển và Hoa Kỳ về tính ràng buộc của thoả thuận tài sản.
- Về lịch sử và sự phát triển của chế độ tài sản theo thoả thuận: Nicolas Frémeaux và Marion Leturcq (2017) trong bài viết "Prenuptial agreements and matrimonial property regimes in France 1855-2010" (Exploration in Economic History) thống kê tỷ lệ ký thoả thuận tiền hôn nhân ở Pháp (chiếm 40% năm 1855, giảm xuống dưới 10% sau cải cách năm 1965 và tăng lên khoảng 18% vào năm 2010 sau khi áp dụng ly hôn không lỗi năm 1975).
- Về quy định pháp luật thực định và khảo sát xã hội học tại các quốc gia: Khảo sát của Cheng Yingqi (2011) tại Trung Quốc cho thấy dưới 3% cặp vợ chồng ở các thành phố cấp 1 ký thoả thuận trước hôn nhân và gần 90% người chưa kết hôn không ủng hộ ý tưởng này; Kobkul Rayanakorn (1995) phân tích Điều 1466 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan; Tạ Đình Tuyên (2020) phân tích Phần VIIIA Đạo luật Gia đình Australia năm 1975 (sửa đổi năm 2000 và 2008) về thoả thuận tài sản (financial agreements) được xác lập trước, trong và sau hôn nhân. Các công trình khác gồm: Pizzolunga D. (2015), Iosif Florin Moldovan (2015), Nigel Lowe, Palma M. Forte (1996), Frederic S. Schwartz (1985), Max Rheinstein, James L.R. Davis (1971), Andrew Bainham.
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Sách chuyên khảo, giáo trình: Quách Văn Dương (2018) với cuốn "Chế độ hôn nhân và CĐTS của vợ chồng theo pháp luật HN&GĐ" (NXB Tư pháp); Nguyễn Văn Cừ (2008) với cuốn "CĐTS của vợ chồng theo pháp luật HN&GĐ Việt Nam" (NXB Tư pháp); Nguyễn Ngọc Điện và Đoàn Thị Phương Diệp (2018) với cuốn "Pháp luật về quan hệ tài sản giữa vợ chồng" (NXB Đại học Quốc gia TP.HCM).
- Luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Cừ (2005) về chế độ tài sản theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Luận án tiến sĩ của Bùi Minh Hằng (2012, Đại học Rennes 1) so sánh pháp luật Pháp và Việt Nam; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thúy Hằng (2018), Nguyễn Thị Kim Dung (2014), Nguyễn Thị Thu Thủy (2015), Lê Thị Huệ (2016), Nguyễn Hương Giang (2017), Hoàng Thị Ngân (2018), Đoàn Thị Lương (2018); các luận văn khảo sát thực tiễn xét xử chia tài sản tại Tòa án địa phương của Trần Quốc Bảo (2020), Bùi Tiến Bình (2018), Nguyễn Thị Thu Hà (2017).
- Bài báo tạp chí: Nguyễn Hùng Hải (1998), Bùi Minh Hằng (2009), Nguyễn Văn Cừ (2015), Nguyễn Thị Thúy Hoài (2020), Nguyễn Ngọc Điện và Đoàn Thị Phương Diệp (2016), Đoàn Thị Phương Diệp (2017), Hoàng Thị Khánh Linh (2016), Ngô Thanh Hương (2020), Ngô Thị Anh Vân (2016), Phạm Đình Nhân (2016). Đề tài NCKH cấp trường của PGS. TS. Nguyễn Thị Lan (2021).
| Nhóm công trình |
Đại diện tiêu biểu |
Nội dung chính |
Hạn chế/Khoảng trống còn lại |
| Nghiên cứu quốc tế |
Anne Sanders, Nicolas Frémeaux, Jens M. Scherpe, Kobkul Rayanakorn |
Quyền tự chủ cá nhân, lịch sử áp dụng tại Pháp, Đức, Mỹ, Úc, Thái Lan |
Chưa gắn với bối cảnh kinh tế - xã hội và hệ thống lập pháp của Việt Nam |
| Sách chuyên khảo & Luận án trước 2014 |
Nguyễn Văn Cừ (2005, 2008), Bùi Minh Hằng (2009, 2012) |
Cơ sở lý luận về chế độ tài sản, so sánh pháp luật Pháp - Việt |
Chưa nghiên cứu các quy định mới của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 |
| Luận văn & Bài báo sau 2014 |
Quách Văn Dương (2018), Nguyễn Ngọc Điện & Đoàn Thị Phương Diệp (2018), Hoàng Thị Ngân (2018) |
Phân tích các điều khoản Luật HN&GĐ 2014, một số vướng mắc đơn lẻ |
Phạm vi hẹp, chưa khảo sát xã hội học quy mô, chưa đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện |
Khoảng trống luận án giải quyết
Hầu hết các công trình trong nước trước đây chỉ tập trung vào chế độ tài sản luật định hoặc phân tích quy định mới ở phạm vi hẹp mang tính bình luận văn bản. Chưa có công trình nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu chuyên sâu, tổng thể chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận sau khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực, kết hợp đồng bộ giữa việc phân tích lý luận, đánh giá lỗ hổng lập pháp, so sánh luật học và xử lý dữ liệu điều tra xã hội học thực chứng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét các quan hệ hôn nhân và tài sản trong sự vận động, gắn liền với điều kiện kinh tế - xã hội qua từng giai đoạn lịch sử của Việt Nam.
- Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước về gia đình: Luận điểm "gia đình là tế bào của xã hội", gia đình thực hiện chức năng kinh tế gắn liền với bảo vệ quyền con người, quyền bình đẳng giới và quyền định đoạt tài sản của cá nhân theo Hiến pháp năm 2013.
- Lý thuyết về giao dịch dân sự và tính đặc thù của quan hệ hôn nhân gia đình: Bản chất thoả thuận tài sản vừa là một giao dịch dân sự (tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, tự do cam kết), vừa mang tính phi đền bù ngang giá và bị chi phối bởi các yếu tố nhân thân, trách nhiệm bảo đảm đời sống chung của gia đình.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp phân tích và bình luận: Sử dụng để làm rõ các khái niệm, phân tích nội dung các quy phạm pháp luật qua các thời kỳ lịch sử và các quy định của pháp luật hiện hành.
- Phương pháp tổng hợp: Khái quát hoá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản theo thoả thuận.
- Phương pháp so sánh luật học: So sánh quy định pháp luật qua các giai đoạn lịch sử tại Việt Nam; so sánh quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của các quốc gia theo hệ thống Civil Law và Common Law (Pháp, Mỹ, Anh, Australia, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản).
- Phương pháp phân tích tình huống: Nghiên cứu, đánh giá các bản án, quyết định thực tế của Tòa án nhân dân nhằm làm rõ vướng mắc trong việc giải quyết tranh chấp.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia: Thu thập ý kiến đánh giá, quan điểm từ các chuyên gia, thẩm phán, công chứng viên, luật sư và giảng viên luật (Mẫu phiếu phỏng vấn tại Phụ lục 02; Báo cáo tổng hợp ý kiến tại Phụ lục 04).
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết lập phiếu khảo sát và tiến hành điều tra online và trực tiếp để thu thập dữ liệu về nhận thức, nhu cầu và lý do lựa chọn hoặc không lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận của người dân (Mẫu phiếu tại Phụ lục 01; Báo cáo phân tích tại Phụ lục 03).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ (Sắc luật 15/64, Bộ luật Dân sự miền Nam 1972, Luật HN&GĐ các năm 1959, 1986, 2000, 2014; Bộ luật Dân sự năm 2005, 2015; Nghị định 126/2014/NĐ-CP; Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP).
- Bản án, quyết định giải quyết tranh chấp tài sản của Tòa án nhân dân các cấp giai đoạn 2018 - 2021 (Phụ lục 05).
- Dữ liệu khảo sát từ các mẫu phiếu điều tra xã hội học và biên bản phỏng vấn chuyên gia.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận
- Khái niệm và đặc điểm: Luận án xác định chế độ tài sản của vợ chồng là toàn bộ các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ sở hữu, quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng, cũng như giữa vợ chồng với người thứ ba. Chế độ tài sản theo thoả thuận là chế độ do hai bên nam nữ xác lập trước khi kết hôn nhằm định đoạt quyền sở hữu, quản lý và sử dụng tài sản trong thời kỳ hôn nhân và khi chấm dứt hôn nhân. Đặc điểm gồm: gắn liền với nhân thân vợ chồng; chủ thể chỉ là hai bên nam nữ chuẩn bị kết hôn; hình thức bắt buộc bằng văn bản có công chứng/chứng thực; vừa tuân thủ nguyên tắc hợp đồng dân sự vừa chịu sự chi phối bởi trật tự công cộng và bảo vệ quyền lợi thành viên yếu thế trong gia đình.
- Cơ sở lý luận và thực tiễn: Sự phát triển kinh tế thị trường làm đa dạng hoá các khối tài sản; nhu cầu minh bạch tài sản phục vụ kinh doanh; bảo đảm quyền con người và quyền tài sản theo Điều 36 Hiến pháp năm 2013; hội nhập quốc tế với các cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài.
- Sự hình thành và phát triển lịch sử tại Việt Nam:
- Thời kỳ Phong kiến và Pháp thuộc: Đã từng ghi nhận các tập quán và quy định về hôn ước, hợp đồng hôn nhân.
- Giai đoạn 1945 đến trước Luật HN&GĐ 2014: Luật HN&GĐ các năm 1959, 1986 và 2000 chỉ duy trì chế độ tài sản luật định (cộng đồng toàn sản hoặc cộng đồng tạo sản) để bảo đảm sự bình đẳng và xóa bỏ tàn tích phân biệt đối xử thời kỳ trước. Miền Nam trước 1975 từng áp dụng chế độ hôn ước theo Luật Gia đình 1959, Sắc luật 15/64 và BLDS 1972.
- Giai đoạn từ Luật HN&GĐ 2014 đến nay: Đánh dấu sự trở lại chính thức của chế độ tài sản theo thoả thuận song hành cùng chế độ tài sản luật định.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam về chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận
- Thoả thuận xác lập chế độ tài sản:
- Thời điểm lập thoả thuận: Điều 47 Luật HN&GĐ năm 2014 bắt buộc thoả thuận phải lập trước khi kết hôn. Luận án phân tích tính cứng nhắc của quy định này so với pháp luật nước ngoài (như Điều 90B, 90C Đạo luật Gia đình Australia cho phép lập trước, trong và sau hôn nhân); chỉ ra thực tế các cặp vợ chồng lập "cam kết tài sản riêng" trong thời kỳ hôn nhân dẫn đến tranh cãi về việc văn bản đó là thoả thuận tài sản hay giao dịch dân sự thông thường.
- Hình thức: Bắt buộc công chứng hoặc chứng thực. Phân tích sự bất cập khi đối chiếu với Điều 129 BLDS năm 2015 về việc công nhận hiệu lực giao dịch vi phạm hình thức nếu đã thực hiện 2/3 nghĩa vụ (khó định lượng nghĩa vụ tài sản 2/3 trong quan hệ hôn nhân không xác định thời hạn).
- Nội dung và thời điểm có hiệu lực: Thoả thuận có hiệu lực từ ngày đăng ký kết hôn; nội dung bao gồm tài sản chung, tài sản riêng, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên.
- Sửa đổi, bổ sung thoả thuận: Điều 49 Luật HN&GĐ 2014 cho phép sửa đổi, bổ sung nhưng quy định còn quá "mở", thiếu các điều kiện cụ thể khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản hoặc trường hợp Tòa án đang thụ lý yêu cầu tuyên bố vô hiệu.
- Thoả thuận bị vô hiệu và chấm dứt chế độ tài sản:
- Vô hiệu: Phân tích Điều 50 Luật HN&GĐ 2014 và Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; chỉ rõ khái niệm "vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền thừa kế" chưa có tiêu chí định lượng rõ ràng; phát hiện khoảng trống pháp lý khi Tòa án ra quyết định huỷ việc kết hôn trái pháp luật thì thoả thuận tài sản xử lý như thế nào.
- Chấm dứt: Luật hiện hành chưa có điều khoản riêng quy định về các căn cứ và thủ tục chấm dứt chế độ tài sản theo thoả thuận trong thời kỳ hôn nhân.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận
- Thực tiễn áp dụng và xét xử tại Tòa án:
- Tỷ lệ người dân lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận rất khiêm tốn do rào cản tâm lý e ngại, quan niệm truyền thống và việc tuyên truyền phổ biến pháp luật chưa sâu rộng.
- Số liệu khảo sát các vụ án tranh chấp tài sản tại Tòa án từ năm 2018 đến 2021 cho thấy hầu hết tranh chấp đều áp dụng chế độ tài sản luật định; việc áp dụng thoả thuận tài sản còn xảy ra lúng túng giữa các cấp Tòa án trong việc xác định tính hợp pháp của văn bản thoả thuận.
- Định hướng và các nhóm giải pháp đề xuất:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện xây dựng pháp luật: Sửa đổi Điều 47 theo hướng cho phép xác lập thoả thuận cả trong thời kỳ hôn nhân; hướng dẫn cụ thể việc không áp dụng hoặc cách thức áp dụng Điều 129 BLDS 2015 đối với thoả thuận tài sản vợ chồng; bổ sung căn cứ vô hiệu khi bị huỷ kết hôn trái pháp luật; xây dựng chế định chấm dứt chế độ tài sản theo thoả thuận.
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng: Tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho thẩm phán, công chứng viên; đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm thay đổi nhận thức xã hội về chế độ tài sản theo thoả thuận.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hoá và làm sâu sắc thêm các khái niệm, đặc điểm, cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc ghi nhận chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
- Làm rõ tính chất giao thoa giữa bản chất giao dịch dân sự (nguyên tắc tự do ý chí) và các quy tắc đặc thù của luật hôn nhân và gia đình (bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em và trật tự công cộng).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và lập pháp
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh về thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng chế độ tài sản theo thoả thuận tại Việt Nam thông qua số liệu điều tra xã hội học và phỏng vấn chuyên gia.
- Chỉ ra các lỗ hổng lập pháp của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:
- Giới hạn thời điểm xác lập chỉ trước khi kết hôn làm giảm tính linh hoạt của pháp luật.
- Bất cập trong việc xử lý vi phạm điều kiện hình thức khi đối chiếu với Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Thiếu quy định giải quyết hiệu lực của thoả thuận trong trường hợp Tòa án huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
- Thiếu vắng các quy định cụ thể về căn cứ, trình tự chấm dứt chế độ tài sản theo thoả thuận trong thời kỳ hôn nhân.
- Đề xuất hệ thống các kiến nghị sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất cho các cơ quan tư pháp và tổ chức hành nghề công chứng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát dữ liệu thực tiễn và các bản án xét xử trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021. Do chế định tài sản theo thoả thuận còn mới và tỷ lệ người dân lựa chọn chưa cao, số lượng án lệ và bản án tranh chấp trực tiếp về thoả thuận tài sản tiền hôn nhân được xét xử tại Tòa án trong giai đoạn này còn hạn chế về số lượng so với các vụ việc chia tài sản theo luật định.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn áp dụng khi số lượng các cặp vợ chồng xác lập thoả thuận gia tăng; mở rộng nghiên cứu giải quyết xung đột pháp luật đối với các thoả thuận tài sản của vợ chồng có yếu tố nước ngoài hoặc liên quan đến các loại tài sản mới (tài sản số, quyền sở hữu trí tuệ phức tạp).
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và Gia đình cũng như hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Đối với cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp: Tài liệu tham khảo hữu ích cho thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư và công chứng viên trong việc giải thích điều khoản, công chứng văn bản và giải quyết tranh chấp tài sản vợ chồng.
- Đối với giảng dạy và nghiên cứu: Tài liệu chuyên khảo phục vụ học tập, giảng dạy môn Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Dân sự và Luật So sánh tại các cơ sở đào tạo luật.
Câu hỏi thường gặp
1. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định thời điểm xác lập thoả thuận chế độ tài sản của vợ chồng như thế nào và có hạn chế gì?
Theo Điều 47 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bắt buộc phải được lập trước khi kết hôn. Hạn chế của quy định này là mang tính cứng nhắc, làm mất đi quyền tự do định đoạt của vợ chồng khi có nhu cầu thay đổi phương thức quản lý tài sản trong thời kỳ hôn nhân, dẫn đến thực trạng nhiều cặp vợ chồng phải sử dụng các hình thức "cam kết tài sản riêng" gây khó khăn cho việc xác định bản chất pháp lý khi phát sinh tranh chấp.
2. Việc áp dụng Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với thoả thuận tài sản vi phạm hình thức gặp vướng mắc gì?
Điều 129 BLDS năm 2015 cho phép Tòa án công nhận hiệu lực của giao dịch vi phạm hình thức bắt buộc nếu một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ. Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân là quan hệ pháp lý kéo dài, không xác định trước thời hạn và giá trị tài sản tạo lập trong tương lai; do đó, việc định lượng để chứng minh một bên đã thực hiện "2/3 nghĩa vụ" trong thoả thuận chế độ tài sản là điều rất khó xác định trên thực tế.
3. Thoả thuận chế độ tài sản được xử lý thế nào khi Tòa án huỷ việc kết hôn trái pháp luật?
Pháp luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành chưa có quy định trực tiếp về trường hợp này. Luận án chỉ ra rằng vì chế độ tài sản theo thoả thuận chỉ phát sinh hiệu lực từ ngày đăng ký kết hôn và gắn liền với sự tồn tại của quan hệ hôn nhân hợp pháp, nên khi Tòa án ra quyết định huỷ kết hôn trái pháp luật thì quan hệ vợ chồng không được công nhận; do đó, thoả thuận chế độ tài sản cũng không thể phát sinh hiệu lực và cần được bổ sung vào diện vô hiệu.
4. Những nguyên nhân chính khiến tỷ lệ lựa chọn chế độ tài sản theo thoả thuận tại Việt Nam còn thấp?
Dựa trên kết quả khảo sát, nguyên nhân chủ yếu gồm: tâm lý e ngại, định kiến văn hoá Á Đông cho rằng việc tính toán tài sản trước khi cưới làm tổn hại tình cảm; nhận thức pháp luật của người dân về chế định này còn hạn chế; các quy định pháp luật thực định còn nhiều khoảng trống và công tác tuyên truyền, hướng dẫn nghiệp vụ công chứng chưa thực sự đồng bộ.
5. Pháp luật Australia quy định về thoả thuận tài sản của vợ chồng có điểm gì khác biệt đáng lưu ý?
Theo Phần VIIIA Đạo luật Gia đình Australia năm 1975 (sửa đổi năm 2000 và 2008), các bên có quyền ký kết thoả thuận tài sản (financial agreements) ở bất kỳ thời điểm nào: trước khi kết hôn (Điều 90B), trong thời kỳ hôn nhân (Điều 90C) và sau khi ly hôn. Ngoài ra, người thứ ba cũng có thể tham gia với tư cách một bên của thoả thuận và các bên bắt buộc phải được tư vấn pháp lý độc lập trước khi ký kết.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Lan đã nghiên cứu toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của chế độ tài sản của vợ chồng theo thoả thuận trong pháp luật Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích luật học, so sánh quốc tế và khảo sát xã hội học thực chứng, tác giả đã làm rõ các điểm bất cập trong quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Các đề xuất, kiến nghị sửa đổi luật và nhóm giải pháp nâng cao năng lực áp dụng trong luận án cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho tiến trình hoàn thiện pháp luật hôn nhân gia đình tại Việt Nam.