Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT QUỐC TẾ, QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VỀ BẢO VỆ NGƯỜI LAO ĐỘNG CHƯA THÀNH NIÊN 1. Khái niệm về người lao động chưa thành niên 1. Định nghĩa về người lao động chưa thành niên Thành niên được hiểu là đã đến độ tuổi trưởng thành và đã được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ5, bên cạnh đó độ tuổi được pháp luật công nhận thành niên là từ 18 tuổi trở lên. Như vậy, người từ đủ 18 tuổi trở lên là người đã đến tuổi trưởng thành.
Cột mốc từ đủ 18 tuổi được chọn như một cột mốc ranh giới giữa người thành niên và người chưa thành niên là hợp lý. Bởi lẽ, theo phân chia về sự phát triển lứa tuổi của trường phái phân tâm học Freud, thời kỳ trưởng thành của con người bắt đầu từ 18 đến 35 tuổi. Theo luận điểm về lý thuyết tâm lý học phát triển, các nhà tâm lý cho rằng, từ tuổi 18 con người đã có mức độ nhận thức ổn định, các cơ quan trong cơ thể đã phát triển gần như toàn diện, nên họ đã có khả năng ra quyết định và hành động độc lập. Ngoài ra, thuyết tâm lý xã hội của Erik Erikson về tám giai đoạn phát triển của con người cũng cho thấy rằng từ 18 tuổi, con người phát triển ý thức cá nhân mạnh mẽ, thoát ly ra khỏi sự phụ thuộc từ gia đình và xây dựng cuộc sống độc lập.
Ta cũng có thể nhận thấy, 18 tuổi chính là độ tuổi hoàn thành chương trình giáo dục, hoàn thiện những kiến thức cơ bản, phát triển trí óc. Ở độ tuổi nhỏ hơn, phần lớn người chưa thành niên nói chung còn phụ thuộc nhiều vào gia đình hoặc người giám hộ, nhất là về vấn đề tài chính và tinh thần. Trong khi đó, lao động là một lĩnh vực có sự đòi hỏi nhất định về nhiều mặt, chính vì vậy với sự hoàn thiện tương đối về kỹ năng, sự ổn định về cảm xúc, khả năng quyết đoán và khả năng tự chịu trách nhiệm cũng như sự phát triển thể chất, hầu hết người lao động là người từ 18 tuổi trở lên đều có thể đem lại hiệu suất lao động cao hơn người lao động chưa đủ 18 tuổi. Chính vì lẽ đó, vấn đề đặt ra là tại sao người chưa thành niên lại tham gia lao động.
Hay nói cách khác, thị trường lao động đang ngày càng phát triển và nhu cầu việc 5 Tra Từ Soha, [ http://tratu.vn/dict/vn_vn/Th%C3%A0nh_ni%C3%AAn] (truy cập ngày 5/5/2023). 12 làm đang ngày càng gia tăng, vậy vì sao tuyển dụng và sử dụng người lao động chưa thành niên vẫn là việc cần thiết? Để giải đáp câu hỏi trên, chúng ta có thể bắt đầu từ những lý thuyết về trẻ em lao động phổ biến trên thế giới. Đầu tiên có thể kể đến lý thuyết Trẻ em là tài sản của gia đình (Children as Household Assets). Trong lý thuyết này, trẻ em được xem xét nghiêm ngặt về giá trị như một loại tài sản.
Becker và Lewis vào năm 1973 lập luận rằng những bậc cha mẹ đông con sẽ ít có khả năng đầu tư vào chất lượng giáo dục cho con của mình mà có thể chỉ đầu tư cho một hoặc vài người con và cho những người khác tham gia lao động. Tuy nhiên, sau đó năm 1985, khi nghiên cứu về lựa chọn trường học ở vùng nông thôn Botswana, Chernichovsky phát hiện ra rằng quy mô gia đình làm tăng trình độ học vấn. Và năm 1991, Levison đã lập luận rằng quy mô gia đình có thể tỷ lệ thuận với việc đi học, bởi khi gia đình có nhiều con cái, sẽ có nhiều đứa con tham gia vào công việc gia đình, chi phí cơ hội của giáo dục cho tất cả những đứa trẻ đều có thể thấp xuống. Khi đó, sức lao động của trẻ em có thể được coi là đầu vào bổ sung cho các nguồn vốn khác của hộ gia đình6.
Lý thuyết này tương đối đúng tại Việt Nam, nhất là ở những vùng quê, miền núi, dân tộc thiểu số chưa biết đến hoặc không thực hiện kế hoạch hóa gia đình. Ở những gia đình đông con, cha mẹ gần như không đủ điều kiện để có thể đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho tất cả các con của mình, khi đó phải có những đứa con trong độ tuổi chưa thành niên tham gia lao động để đảm bảo mức sống cho gia đình cũng như nhu cầu cơ bản của mình và các anh chị em. Một quan điểm khác rất phổ biến là Giả thuyết nghèo đói (The Poverty Hypothesis), theo đó, lao động trẻ em về cơ bản là sản phẩm phụ của nghèo đói. Krueger vào năm 1996 đã ghi nhận mối tương quan ngược chiều giữa các quốc gia giữa GDP bình quân đầu người và tỷ lệ việc làm của nhóm người từ 10 đến 14 tuổi vào năm 1995.
Sau đó, vào năm 2000, Baland và Robinson đã cụ thể hóa ý tưởng này khi đưa ra lập luận rằng tất cả các gia đình nghèo khó sẽ đưa ra quyết định sử dụng lao động trẻ em để tối đa hóa giá trị chiết khấu hiện 6 Drusilla K. Stern, “Child labor: Theory, evidence and policy”, RESEARCH SEMINAR IN INTERNATIONAL ECONOMICS, do Trường Chính sách Công Đại học Michigan tổ chức ngày 17/04/2001 tại Ann Arbor, Michigan, tr. 13 tại của thu nhập hộ gia đình7. Xét trên phương diện thực tế, trong bất cứ xã hội nào, dù là ở các nước phát triển, luôn có những gia đình khó khăn về mặt kinh tế, thu nhập thấp, không đủ để trang trải những nhu cầu thiết yếu, thậm chí có những gia đình neo đơn, không có người lao động chính.
Khi đó, những người trong độ tuổi chưa thành niên buộc phải tham gia lao động để trang trải cuộc sống, đóng góp vào thu nhập gia đình. Các lý thuyết nói trên đều giải thích sự cần thiết của lao động chưa thành niên theo khía cạnh nhu cầu được tham gia lao động để đảm bảo thu nhập, mức sống của họ hoặc gia đình họ. Về phía nhu cầu sử dụng người chưa thành niên của người sử dụng lao động, chúng ta có một lý thuyết phổ biến là Nhu cầu về lao động trẻ em (The Demand for Child Labor). Lý thuyết này đã chỉ ra nhu cầu đối với người lao động là trẻ em xuất phát từ những đặc điểm đặc biệt của đối tượng này khiến việc sản xuất không thể thiếu họ.
Một số người chủ cho rằng chỉ những đứa trẻ có ngón tay nhỏ mới có khả năng làm những tấm thảm đan thủ công tinh xảo, hái những bông hoa nhài mỏng manh hoặc luồn lách trong những đường hầm hẹp8. Quả thật, bên cạnh những công việc mà người sử dụng lao động có thể tự do lựa chọn người lao động làm việc cho mình, còn có những công việc mà tính chất của nó đòi hỏi người lao động phải là người chưa thành niên. Chẳng hạn, trong lĩnh vực nghệ thuật, những vai diễn mà nhân vật là trẻ em thì đòi hỏi diễn viên cũng phải là trẻ em, hoặc những nhóm văn nghệ thiếu nhi thì cần sự tham gia của các bạn nhỏ. Một lý thuyết phổ biến khác về nhu cầu của người sử dụng lao động là Lý thuyết thương lượng thất bại (Bargaining Failure).
Trong lý thuyết, Genicot đã lập luận rằng việc cha mẹ thương lượng với người sử dụng lao động cũng có thể làm phát sinh lao động trẻ em. Theo ông, đối với những người có thu nhập rất thấp, không đủ để tiêu dùng cho các nhu cầu thiết yếu thì người sử dụng có thể tìm cách tăng năng suất của họ bằng cách trả lương cao hơn, với kỳ vọng mức lương cao hơn sẽ khiến họ làm việc hiệu quả hơn. Tuy nhiên, khi người lao động có gia đình, tiền lương tăng thêm có thể được dùng cho những 7 Drusilla K. Stern, “Child labor: Theory, evidence and policy”, RESEARCH SEMINAR IN INTERNATIONAL ECONOMICS, do Trường Chính sách Công Đại học Michigan tổ chức ngày 17/04/2001 tại Ann Arbor, Michigan, tr.
Stern, “Child labor: Theory, evidence and policy”, RESEARCH SEMINAR IN INTERNATIONAL ECONOMICS, do Trường Chính sách Công Đại học Michigan tổ chức ngày 17/04/2001 tại Ann Arbor, Michigan, tr. 14 thành viên khác trong gia đình. Do đó, những lợi ích nâng cao năng suất theo kỳ vọng của người sử dụng lao động không được thực hiện. Để nội bộ hóa sự rò rỉ, người sử dụng lao động có thể tuyển dụng tất cả thành viên trong gia đình, bao gồm vợ, chồng và con cái9.
Ngoài những lý thuyết phổ biến trên, theo quan điểm của nhóm tác giả, việc người chưa thành niên được tham gia lao động còn nhằm thực thi và bảo vệ Quyền con người. Như đã phân tích ở phần Tính cấp thiết của đề tài, lao động là một trong các quyền cơ bản của con người. Đã là quyền con người thì mỗi cá thể dù ở độ tuổi nào cũng đều xứng đáng được hưởng quyền lợi, được tham gia lao động, tạo ra giá trị cho chính bản thân. Và đó cũng là cơ sở để người chưa thành niên được tham gia xác lập quan hệ lao động, hưởng quyền lợi chính đáng của mình.
Bên cạnh việc đảm bảo quyền lợi của người chưa thành niên, việc tạo ra cơ chế cho phép tham gia và bảo vệ họ trong quan hệ lao động còn góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đối người chưa thành niên sinh sống trong gia đình có thu nhập thấp, khó khăn về tài chính mà họ là người có sức lao động duy nhất trong gia đình, việc lao động đem lại nguồn thu nhập, ổn định đời sống. Đói nghèo cũng là nguyên nhân cơ bản dẫn đến phát sinh các tệ nạn xã hội như: cờ bạc, trộm cắp,. gây hậu quả và tác động tiêu cực đến an ninh trật tự, an toàn xã hội10.
Theo điều tra SCGDW Việt Nam năm 2020-2021, trong số các lao động trẻ em, có 13.8% trẻ em có điều kiện kinh tế cực kỳ khó khăn. Từ đó có thể thấy, luôn tồn tại tình trạng trẻ em tham gia lao động bởi hoàn cảnh bắt buộc. Do đó, cho phép lao động giúp người chưa thành niên có thể tham gia những quan hệ lao động hợp pháp, hạn chế nguy cơ gia tăng tệ nạn xã hội, giúp họ có nhiều lựa chọn, không bắt buộc phải làm những công việc bất hợp pháp để kiếm thêm thu nhập. Tóm lại, có thể hiểu người lao động chưa thành niên là người chưa thành niên tham gia lao động hoặc đầy đủ hơn là người chưa đủ 18 tuổi tham gia lao động trong những lĩnh vực, ngành nghề được pháp luật cho phép.
Stern, “Child labor: Theory, evidence and policy”, RESEARCH SEMINAR IN INTERNATIONAL ECONOMICS, do Trường Chính sách Công Đại học Michigan tổ chức ngày 17/04/2001 tại Ann Arbor, Michigan, tr.