Khóa luận: Giao kết hợp đồng theo pháp luật dân sự - ĐH Luật Hà Nội

Khóa luận tốt nghiệp luật học về giao kết hợp đồng theo pháp luật dân sự. Phân tích quy định hiện hành, thực tiễn áp dụng và kiến nghị giải pháp hoàn thiện.

Chuyên ngành

Luật Dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

89
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giao kết hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam

Giao kết hợp đồng là chế định cốt lõi trong pháp luật dân sự Việt Nam. Quy định hiện hành tại Bộ luật Dân sự năm 2015 tạo hành lang pháp lý minh bạch cho các chủ thể tham gia giao dịch. Bản chất của giao kết hợp đồng là sự thống nhất ý chí giữa các bên độc lập và bình đẳng. Quá trình này xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự cụ thể. Việc nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa học thuật và thực tiễn sâu sắc. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự an toàn và linh hoạt trong các cam kết thương mại. Khóa luận tốt nghiệp ngành luật học tập trung làm rõ các nguyên tắc tự do giao kết, thiện chí và trung thực. Ngoài ra, việc phân tích lịch sử lập pháp và tiếp thu kinh nghiệm quốc tế như CISG, PECL hay PICC giúp hoàn thiện hệ thống quy phạm trong nước. Hoạt động giao kết hợp đồng đúng pháp luật giúp hạn chế tranh chấp phát sinh, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên và bảo đảm trật tự giao lưu dân sự lành mạnh.

1.1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý của giao kết hợp đồng

Giao kết hợp đồng là hành vi pháp lý đơn phương hoặc đa phương nhằm hình thành thỏa thuận có hiệu lực ràng buộc. Đặc điểm nổi bật của giao kết hợp đồng là tính tự nguyện và bình đẳng. Các chủ thể tham gia hoàn toàn tự do bày tỏ ý chí mà không bị ép buộc hay lừa dối. Nội dung thỏa thuận không được vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Về mặt trình tự, giao kết hợp đồng diễn ra qua các giai đoạn rõ ràng. Đề nghị giao kết thể hiện ý định ký kết của bên đề nghị. Việc chấp nhận đề nghị đánh dấu sự thống nhất ý chí hoàn chỉnh. Hợp đồng chính thức phát sinh hiệu lực thi hành kể từ thời điểm này.

1.2. Các nguyên tắc cơ bản chi phối quá trình giao kết hợp đồng

Pháp luật dân sự Việt Nam quy định những nguyên tắc nền tảng điều chỉnh hoạt động giao kết hợp đồng. Đầu tiên là nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được xâm phạm trật tự công cộng và lợi ích quốc gia. Tiếp theo là nguyên tắc bình đẳng giữa các bên trong quan hệ hợp đồng. Không bên nào được áp đặt ý chí hay tạo ra điều kiện bất bình đẳng. Nguyên tắc thiện chí và trung thực giữ vai trò trọng yếu trong việc cung cấp thông tin minh bạch trước khi ký kết. Các bên phải tôn trọng quyền lợi hợp pháp của nhau trong suốt quá trình đàm phán. Những nguyên tắc này tạo nền móng vững chắc giúp hợp đồng được thực thi hiệu quả trên thực tế.

II. Phân tích bất cập khi giao kết hợp đồng theo luật dân sự

Bộ luật Dân sự năm 2015 đã cải cách nhiều quy định về giao kết hợp đồng. Điểm tiến bộ rõ nét là việc lược bỏ cụm từ dân sự trong khái niệm hợp đồng để mở rộng phạm vi điều chỉnh sang các lĩnh vực kinh doanh, thương mại và đầu tư. Quy định về việc gửi đề nghị giao kết tới công chúng cũng phản ánh kịp thời xu hướng giao dịch hiện đại. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn pháp lý. Khái niệm về giai đoạn tiền hợp đồng chưa được phân định rõ ràng trong văn bản quy phạm. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin trong quá trình đàm phán còn thiếu chế tài cụ thể. Quy định về thời điểm rút lại hoặc thay đổi đề nghị giao kết hợp đồng chưa thực sự đồng bộ với các chuẩn mực quốc tế như CISG hay Bộ luật Thương mại Hoa Kỳ. Sự thiếu thống nhất này tạo ra nhiều rủi ro pháp lý cho các chủ thể tham gia giao dịch. Tình trạng tranh chấp phát sinh từ giai đoạn giao kết ngày càng gia tăng, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải phân tích thấu đáo các khoảng trống luật định.

2.1. Vướng mắc trong quy định về đề nghị giao kết hợp đồng

Giai đoạn đề nghị giao kết hợp đồng tiềm ẩn nhiều bất cập về mặt kỹ thuật lập pháp. Điều luật chưa phân định ranh giới rõ ràng giữa lời mời thương lượng và đề nghị giao kết chính thức. Điều này gây khó khăn cho các bên khi xác định hiệu lực ràng buộc của văn bản giao dịch. Bên cạnh đó, quy định về việc rút lại hoặc hủy bỏ đề nghị giao kết còn cứng nhắc. Quyền lợi của bên được đề nghị chưa được bảo vệ thỏa đáng khi bên đề nghị đơn phương thay đổi ý chí. Khi xảy ra hành vi rút lại đề nghị gây tổn thất, cơ chế xác định thiệt hại thực tế còn thiếu hướng dẫn áp dụng thống nhất. Do đó, các tranh chấp tiền hợp đồng thường kéo dài và khó giải quyết triệt để.

2.2. Hạn chế trong quy định về chấp nhận đề nghị giao kết

Khái niệm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đòi hỏi sự đồng thuận vô điều kiện đối với toàn bộ nội dung đề nghị. Tuy nhiên, trong thực tiễn giao thương phức tạp, các bên thường bổ sung hoặc sửa đổi các điều khoản phụ. Luật hiện hành coi việc sửa đổi này là một đề nghị mới, làm gián đoạn tiến trình giao kết. Điều này chưa bắt kịp quy định hiện đại tại Điều 2-207 của Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ. Ngoài ra, vấn đề im lặng có được coi là chấp nhận giao kết hay không vẫn gây nhiều tranh cãi khi thiếu thỏa thuận trước. Thời điểm hợp đồng phát sinh hiệu lực qua phương thức điện tử cũng chưa có quy tắc hướng dẫn thật chi tiết.

III. Giải pháp hoàn thiện giao kết hợp đồng theo luật dân sự

Để nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật, việc hoàn thiện các quy định về giao kết hợp đồng là nhiệm vụ then chốt. Cần bổ sung các quy phạm chi tiết điều chỉnh giai đoạn tiền hợp đồng vào Bộ luật Dân sự. Việc luật hóa nguyên tắc thiện chí trong đàm phán sẽ ràng buộc nghĩa vụ cung cấp thông tin trung thực giữa các bên. Nếu một bên cố ý cung cấp thông tin sai lệch gây thiệt hại, bên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường tương xứng. Bên cạnh đó, Việt Nam cần chủ động tiếp thu có chọn lọc các thông lệ quốc tế tiên tiến. Các quy tắc từ Công ước CISG, Bộ nguyên tắc PICC và luật hợp đồng của Pháp cung cấp nhiều kinh nghiệm quý báu. Cần sửa đổi quy định về chấp nhận đề nghị có điều kiện theo hướng linh hoạt hơn. Nếu các điều khoản sửa đổi không làm thay đổi cơ bản nội dung hợp đồng, thỏa thuận vẫn nên được công nhận hiệu lực. Cơ quan tư pháp cũng cần sớm ban hành các án lệ và nghị quyết hướng dẫn thi hành nhằm tạo sự đồng nhất trong phán quyết của tòa án các cấp.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật thực định về hợp đồng

Hoàn thiện hệ thống luật thực định đòi hỏi sửa đổi cụ thể các điều khoản trong Bộ luật Dân sự. Cần bổ sung quy định rõ ràng về trách nhiệm tiền hợp đồng. Khi một bên đàm phán thiếu thiện chí hoặc bất ngờ chấm dứt thương lượng vô lý, họ phải bồi thường chi phí thực tế cho đối tác. Ngoài ra, quy tắc xác định thời điểm giao kết qua phương tiện điện tử cần được chuẩn hóa tương thích với Luật Giao dịch điện tử. Cần quy định rõ giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu tự động nhằm bảo vệ an toàn pháp lý cho thương mại điện tử. Những sửa đổi này sẽ lấp đầy khoảng trống lập pháp hiện tại.

3.2. Nâng cao kỹ năng đàm phán và phòng ngừa rủi ro pháp lý

Bên cạnh giải pháp lập pháp, các chủ thể tham gia giao dịch cần nâng cao kỹ năng đàm phán hợp đồng. Doanh nghiệp cần xây dựng quy trình soạn thảo văn bản đề nghị giao kết chặt chẽ. Mọi điều khoản chủ yếu như đối tượng, giá cả, phương thức thanh toán và thời hạn thực hiện phải được mô tả chi tiết. Trong quá trình thương thảo, việc lập biên bản ghi nhớ hoặc thỏa thuận bảo mật thông tin là rất cần thiết. Các bên nên tham vấn ý kiến của luật sư chuyên môn trước khi đưa ra chấp nhận giao kết. Việc chủ động rà soát pháp lý giúp kiểm soát tối đa nguy cơ tranh chấp và bảo vệ tài sản doanh nghiệp bền vững.

IV. Kết luận và ứng dụng khóa luận tốt nghiệp luật học dân sự

Khóa luận tốt nghiệp luật học về giao kết hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam mang lại giá trị lý luận và ứng dụng thực tiễn to lớn. Công trình nghiên cứu hệ thống hóa toàn diện các căn cứ pháp lý từ Bộ luật Dân sự năm 2015 và luật so sánh quốc tế. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất của các cam kết dân sự, đồng thời chỉ rõ những điểm nghẽn cần khắc phục trong hệ thống pháp luật thực định. Nội dung đề tài cung cấp nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho sinh viên luật, giảng viên và các chuyên gia tư vấn pháp lý. Đối với hoạt động thực thi pháp luật, các kiến nghị trong khóa luận hỗ trợ thẩm phán và trọng tài viên có góc nhìn khách quan khi xét xử các vụ án tranh chấp hợp đồng. Đối với cộng đồng doanh nghiệp, nghiên cứu này đóng vai trò như một cẩm nang pháp lý hữu ích. Việc áp dụng chuẩn xác quy trình giao kết giúp doanh nghiệp phòng tránh rủi ro vô hiệu hợp đồng, bảo đảm an toàn dòng vốn và nâng cao hiệu quả thương mại.

4.1. Đóng góp lý luận cho khoa học pháp lý dân sự Việt Nam

Đề tài khóa luận tốt nghiệp đã làm sâu sắc thêm hệ thống lý luận về luật hợp đồng trong nền kinh tế thị trường. Nghiên cứu phân tích thấu đáo quá trình phát triển của các quy định giao kết qua từng thời kỳ lập pháp. Việc đối chiếu với các nguyên tắc luật học quốc tế như PECL và PICC đem lại góc nhìn khoa học hiện đại. Nghiên cứu khẳng định tầm quan trọng của việc bảo vệ tự do ý chí và nguyên tắc bình đẳng pháp lý. Đây là nguồn dữ liệu học thuật hữu ích cho công tác đào tạo cử nhân luật và định hướng sửa đổi pháp luật trong tương lai.

4.2. Khả năng ứng dụng thực tiễn trong giải quyết tranh chấp

Các phân tích trong khóa luận mang giá trị thực tiễn cao cho hoạt động xét xử và hành nghề luật. Thẩm phán và luật sư có thể vận dụng các luận điểm khoa học để đánh giá chính xác tính hợp pháp của đề nghị và chấp nhận giao kết. Nghiên cứu giúp phân loại rõ các trường hợp hợp đồng vô hiệu do vi phạm ý chí hoặc hình thức văn bản. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể ứng dụng các khuyến nghị để hoàn thiện mẫu hợp đồng nội bộ. Việc nắm vững quy tắc pháp lý về thời điểm có hiệu lực giúp các bên chủ động bảo vệ quyền lợi khi phát sinh vi phạm cam kết.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Khóa luận tốt nghiệp luật học giao kết hợp đồng theo quy định pháp luật dân sự việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE GIAO KET HỢP DONG 1. Khái niệm, đặc điểm của giao kết hop đồng 1. Khái niệm giao kết hợp đồng Giao kết hợp đồng là một trình tự pháp lý cơ bán, đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập và duy trì quan hệ pháp luật giữa các bên.

Trong bối cánh phát triển kinh tế hiện nay, hiểu rõ về giao kết hợp đồng trở nên thiết yếu hơn bao giờ hết. Qua đó, giúp các doanh nghiệp và cá nhân bảo vệ quyền lợi của mình, tránh rủi ro và tranh chấp không đáng có, góp phần xây dựng một môi trường kinh doanh an toàn và bền vững. Thuật ngữ “Giao kế! hợp đồng” là một thuật ngữ pháp lý quan trọng của pháp luật hợp đồng. Tuy nhiên tại Việt Nam, pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thê về khái niệm giao kết hợp đồng.

Việc tiếp cận khái niệm này chủ yêu được nhìn nhận trong các tai liệu giảng dạy, học tập và dưới góc độ khoa học do đó, cách hiểu về thuật ngữ này còn tổn tại nhiều quan điểm không đồng nhất. Trong Giáo trình Luật Dân sự (tập ID, Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra khái niệm về giao kết hợp đồng như sau: “Giao kết hợp đồng là trình tự, trong đó mỗi bên thể hiện ý chi của mình về các van đề liên quan đến hợp dong can xác lập đề đạt được sự thỏa thuận giữa các bên về hợp dong đó”? Quan điểm nay có thể hiểu giao kết hợp đồng là quá trình mà trong đó mỗi bên tham gia đều có quyền bày tỏ ý kiến và mong muốn của mình về các điều khoản của hợp đồng. Mục tiêu cuối cùng là đạt được sự đồng thuận giữa các bên về nội dung và thực hiện việc xác lập hợp đồng. Mặt khác, trong Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học (Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Tố tụng Dân sự) của Trường Đại học Luật Hà Nội có đề cập đến khái niệm: “Giao kết hợp đồng dan sự là việc các bên bày tỏ và thong nhất ý chi với nhau dưới hình thức lời nói (bằng miệng) hoặc văn bản theo những nguyên tắc và trình tự nhất định nhằm xác lập quyên và nghĩa vụ dân sự đối với nhau trong hợp đông dân sự”.

Quan điềm này nhìn nhận giao kết hợp đồng dan sự dưới góc độ hình thức tuy nhiên, gan với thực tế hiện nay khi giao kết hợp đồng * Trường Dai học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Dán sự Việt Nam (rập ID), Nxb. Công an nhân dan,tr.197 9 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Tir điển giải thích thuật ngữ Luật học (Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật t6 tung dan sự), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.62 điện tử ngày càng phát triển, giao kết hợp đồng bang “lời nói” và “van bản” chưa thật sự đầy đủ và cần thiết có sự xem xét, bố Sung. Theo Từ điển Luật học, giao kết hợp đồng là “sự théa thuận và thong nhất ý chí giữa các bên với nhau bằng một hình thức nhất định nhằm xác lập quyên và nghĩa vụ đối với nhau+ Cách hiểu này ngắn gọn nhưng đã bao hàm được những đặc điểm cơ bản nhất của giao kết hợp đồng.

Như vậy, qua các khái niệm về giao kết hợp đồng, có thể rút ra những điểm chung trong ban chất của giao kết hợp đồng là một quá trình pháp lý gồm các yếu tố: có sự tham gia của các bên giao kết, có sự bảy tỏ ý chí về nội dung của hợp đồng, có sự đồng thuận cùng đi đến một kết quả chung. Giao kết hợp đồng hiểu cơ ban là việc các bên chủ thé tham gia vào giao kết dé thê hiện ý chí với nhau về việc xác lập, thay đổi hoặc cham đứt các quyền và nghĩa vụ trong nội dung đã giao kết theo quy định của pháp luật về hợp đồng. Trinh tự nay đề cao sự tự nguyện va tự đo của các bên nhưng vẫn phải tuân theo nội dung và hình thức nhất định được pháp luật chấp nhận. Đặc điểm giao kết hợp đồng Thứ nhất, Giao kết hợp đồng là quá trình thỏa thuận ý chỉ — bước khởi dau quyết định tính ràng buộc và hiệu lực pháp lý của mọi quan hệ hợp đồng.

Giao kết hợp đồng bắt đầu từ việc các bên chủ động thiết lập liên lạc, trao đổi nhu cầu và điều kiện, sau đó tiến hành thương lượng dé théng nhất nội dung chính (đối tượng, giá cả, thời hạn, quyền vả nghĩa vụ). Quá trình này không chỉ là trao đổi thông tin đơn thuần mà còn đòi hỏi sự cam kết về tinh thần hợp tác và niềm tin lẫn nhau. Khi đàm phán, mỗi bên đều có thể đề xuất chỉnh sửa điều khoản nhằm bảo đảm lợi ích và giảm thiểu rủi ro; việc này có thể lặp lại nhiều lần cho đến khi đạt được thỏa thuận chung. Sự tự nguyện và bình đăng là nguyên tắc lý tưởng trong giao kết, đù trong thực tế tồn tại chênh lệch về sức mạnh thương lượng hoặc thông tin.

Chi sau khi cac bén dat duoc su đồng thuận hoàn toàn về các điều khoản, giao kết xem như hoản thành và kết quả là một hợp đồng—văn bản hoặc thỏa thuận đã được ký kết. Trong khi giao kết tập trung vào quá trình xây dựng và xác lập ý chí * Viện Khoa học Pháp lý (2006), Tv điển Luật học, Nxb Tư pháp, tr.297 10 chung, hợp đồng thé hiện kết quả cuối cùng của quá trình đó với các quyền, nghĩa vụ cụ thê đã được ghi nhận. Thứ hai, giao kết hợp đồng chưa mang sự ràng buộc hoàn toàn nếu chưa hoàn thiện hình thức pháp lý Giao kết hợp đồng không phải là một hành vi có định mả là một chuỗi đàm phán liên tục, nơi các bên có thé đề xuất, rút lại hoặc sửa đổi các điều khoản nhằm cân bằng lợi ích và vị thế thương lượng. Mỗi lần bên nhận đề nghị phản hồi kèm chỉnh sửa được xem như một “đề nghị mdi” (counter-offer), khởi động lại quá trình trao đôi cho đến khi đạt được sự đồng thuận tuyệt đối về toan bộ nội dung.

Sự linh hoạt nảy cho phép giải quyết vướng mắc và còn đòi hỏi tính minh bạch, thiện chí từ các bên, cho đến khi xuất hiện sự chấp nhận vô điều kiện dé quá trình giao kết chuyển sang giai đoạn hiệu lực. Trong khi đó, hợp đồng — kết quả cuối cùng của giao kết — là văn ban đã cố định điều khoản, không cho phép thay đối trừ khi có thỏa thuận điều chỉnh hoặc công đoạn đàm phán mới. Mặt khác, dù hai bên đã thông nhất nội dung, việc giao kết mới phát sinh hiệu lực ràng buộc pháp lý khi và chỉ khi đáp ứng những hình thức mà pháp luật quy định cho từng loại hợp đồng. Nếu luật định yêu cầu hợp đồng phải được lập thành văn bản, có chữ ký, công chứng hoặc chứng thực thì thóa thuận bằng lời nói dv trọn vẹn cũng không đủ hiệu lực.

Ngược lại, đỗi với những giao dịch không bắt buộc hình thức văn bản (ví dụ mua bán hàng hóa dân sự thông thường), sự đồng ý miệng về nội dung có thể phát sinh đầy đủ quyền và nghĩa vụ. Việc này vừa bảo đảm linh hoạt cho quan hệ đân sự, vừa ngăn ngừa “hợp đồng ngầm” dễ gây tranh chấp. Thứ ba, việc chấp nhận dé nghị giao kết chỉ dan đến việc hop đồng hình thành hiệu lực khi toàn bộ nội dung dé nghi duoc chap nhận một cách vô diéu kiện. Trong lý luận hợp đồng, nguyên tắc “đồng nguyên văn” (mirror image rule) đòi hỏi bên nhận đề nghị phải tỏ rõ sự đồng thuận không sửa đôi, không bổ sung bat kỳ điều khoản nào của đề nghị ban đầu.

Chỉ khi có sự trọn vẹn về ý chí và nội dung — tức là toàn bộ điều khoản về đối tượng, giá cả, thời hạn, quyền và nghĩa vụ được chấp nhận nguyên vẹn — thì giao kết mới hoàn thành và hợp đồng chính thức có hiệu lực pháp ly. 11 Ngược lại, néu bên nhận đề nghị kèm theo bất kỳ sửa đổi hay bổ sung nào, hành vi đó không được xem là sự chấp nhận mà là “đề nghị mới” (counter-offer). Đề nghị mới này tự thân nó lại khởi động một chuỗi đàm phán và chấp nhận mới, và chỉ khi đề nghị mới đó được chấp nhận toàn diện thì mới phát sinh hợp đồng có hiệu lực. Do vậy, trong quá trình giao kết, sự rõ ràng và nhất quán giữa các bên về nội dung dé nghị va chấp nhận là yếu tố then chốt dé một hợp đồng được coi là đã được giao kết đầy đủ và có giá trị ràng buộc.

Nguyên tắc giao kết hợp đồng Viện Thống nhất Tư pháp quốc tế (viết tắt theo Tiếng Pháp là UNIDROIT) đã cho ra đời cuốn sách “Nguyên tắc Hợp đồng Thương mại Quốc tế” viết tắt theo Tiếng anh là PICC (Principle of International Commercial Contract) trong đó đưa ra nguyên tắc “tự đo hợp đồng” (Điều 1.1) và “Nguyên tắc thiện chí và trung thực” (Điều 1.7) Ở Việt Nam, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng được quy định tại Điều 3 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Điều 2 Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991 và sau đó được kế thừa tinh thần trong Bộ Luật Dân sự 1995, 2005 và 2015. Giao kết hợp đồng dân sự là quá trình mà các bên tham gia thỏa thuận với nhau về việc tao ra, thay đổi hoặc cham dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý. Xuất phát từ vai trò quan trọng của giao kết hợp đồng, mặc dù dé cao sự thỏa thuận tự do của các bên nhưng pháp luật vẫn đặt ra các nguyên tắc dé dam bảo quyền và lợi ích tốt nhất. Việc giao kết hợp đồng dan sự phải tuân theo nguyên tắc sau đây: Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không trái với pháp luật và đạo đực xã hội Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng (Freedom of contract) có nguồn gốc từ thuyết tự đo ý chí trong giao kết hợp đồng từ thế kỷ XVIII và nằm trong hệ thống các quan điểm của nền triết học ánh sáng.

Theo nguyên tắc, các bên chủ thê giao kết hợp đồng được quyết định mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng”. Theo PICC tự do hợp đồng hiểu là “Các bên được tự do giao kết hợp đồng và thỏa thuận nội dung của hop đồng”. Tự do giao kết hợp đồng là một trong những nguyên tắc cơ bản khi 5 Cao Thị Thùy Linh (2022), Nguyên tắc tự do giao kết hợp đông theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành: luận văn thạc sĩ Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ