Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu do tài sản gây ra" của tác giả Hồ Vũ Quỳnh Anh (ngành Luật Dân sự, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2025; người hướng dẫn khoa học: ThS. Hoàng Trung Hiếu) tập trung nghiên cứu chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại (TNBTTH) ngoài hợp đồng khi thiệt hại phát sinh từ tài sản.

Về bối cảnh thực tiễn, sự phát triển kinh tế – xã hội làm gia tăng số lượng tài sản đưa vào lưu thông và sử dụng, đồng thời tiềm ẩn nhiều rủi ro gây thiệt hại cho cộng đồng. Tác giả dẫn chứng hai sự cố nghiêm trọng được dư luận quan tâm:

  • Vụ nhánh cây cổ thụ cao 25m tại Công viên Tao Đàn (Quận 1, TP. Hồ Chí Minh) bất ngờ gãy đổ sáng ngày 09/08/2024 trong điều kiện thời tiết không mưa gió, làm 02 người tử vong;
  • Vụ cháy chung cư mini tại Khương Hạ (Thanh Xuân, Hà Nội) đêm 12/09/2023 do sự cố chập điện bình ắc quy, gây hậu quả 56 người tử vong, 44 người bị thương và thiệt hại tài sản ước tính 3,2 tỷ đồng.

Về mặt pháp lý, dù Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 đã có các điều khoản điều chỉnh, thực tiễn xét xử tại Tòa án vẫn tồn tại nhiều vướng mắc trong việc xác định tư cách chủ thể chịu trách nhiệm, phân định mức độ bồi thường, điều kiện phát sinh trách nhiệm cũng như xác định vai trò của yếu tố lỗi.

Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ cơ sở lý luận, phân tích thực trạng các quy định của BLDS năm 2015 về TNBTTH của chủ sở hữu khi tài sản gây ra; đối chiếu thực tiễn xét xử tại Tòa án nhằm chỉ ra các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân; từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành.

Nhiệm vụ nghiên cứu (theo văn bản):

  1. Làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về TNBTTH của chủ sở hữu do tài sản gây ra (xây dựng khái niệm khoa học, nhận diện đặc điểm, chỉ ra căn cứ phát sinh, phân loại và phân biệt loại trách nhiệm này).
  2. Nghiên cứu thực trạng pháp luật hiện hành về TNBTTH của chủ sở hữu do tài sản gây ra thông qua phân tích quy định đối với từng trường hợp tài sản cụ thể; đánh giá thành tựu và hạn chế của các quy định.
  3. Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án Việt Nam; rút ra nhận xét về kết quả đạt được, vướng mắc tồn tại và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị có tính khả thi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống lý luận, quy định pháp luật thực định và thực tiễn xét xử tại Tòa án về TNBTTH của chủ sở hữu do tài sản gây ra.
  • Phạm vi nội dung: Các quy định của BLDS năm 2015 và các văn bản pháp luật liên quan trực tiếp đến TNBTTH của chủ sở hữu khi tài sản gây thiệt hại.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát các quy định hiện hành của BLDS năm 2015, có đối chiếu với BLDS năm 1995 và BLDS năm 2005 để nhận diện xu hướng phát triển pháp lý.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào hệ thống pháp luật và thực tiễn tư pháp Việt Nam; đồng thời đối chiếu, so sánh với pháp luật của các quốc gia thuộc hệ thống Thông luật (Anh, Mỹ) và Dân luật (Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản, Thái Lan).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên các nền tảng lý thuyết và hệ thống văn bản pháp lý sau:

  • Khung lý thuyết và học thuyết pháp lý:
    • Học thuyết "Lý do công bằng xã hội" (xuất phát từ Luật La Mã cổ đại): Phân bổ trách nhiệm cho người làm chủ, sở hữu tài sản nhằm bù đắp tổn thất cho nạn nhân.
    • Học thuyết "Trách nhiệm khách quan" (Objective Liability) và nguyên tắc "Trách nhiệm nghiêm ngặt" (Strict Liability / La responsabilité sans faute): Buộc chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bồi thường mà không bắt buộc nạn nhân phải chứng minh yếu tố lỗi của chủ tài sản (khởi nguồn từ các án lệ Rylands v Fletcher 1868, Byne v Boadle 1863).
    • Khái niệm Tort Law trong pháp luật Anh (Peter Cane, Winfield & Jolowicz), cấu trúc trách nhiệm ngoài hợp đồng theo Điều 823 BLDS Đức, Điều 1245 và Điều 1384 BLDS Pháp, Điều 15 và 1079 BLDS Liên bang Nga, Điều 420 và 437 BLDS & Thương mại Thái Lan, Điều 710 BLDS Nhật Bản, Chỉ thị 85/374/EEC của Hội đồng châu Âu.
  • Văn bản pháp luật Việt Nam:
    • BLDS năm 2015: Điều 105 (khái niệm tài sản), Điều 156 (sự kiện bất khả kháng), Điều 160 (thực hiện quyền sở hữu), Điều 162 (chịu rủi ro về tài sản), Điều 171 (tình thế cấp thiết), Điều 177 (nghĩa vụ bảo đảm an toàn), Điều 584 (căn cứ phát sinh TNBTTH nói chung), Điều 601 (nguồn nguy hiểm cao độ), Điều 603 (súc vật), Điều 604 (cây cối), Điều 605 (nhà ở, công trình xây dựng khác).
    • BLDS năm 1995, BLDS năm 2005 (Điều 626, Điều 627) và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Áp dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ nội dung điều luật, lập luận của các học giả và xây dựng kết luận lý luận.
    • Phương pháp hệ thống hóa: Sắp xếp các nhóm quy phạm pháp luật và án lệ theo cấu trúc logic từ nguyên lý chung đến từng loại tài sản.
    • Phương pháp chứng minh: Đưa ra số liệu thực tế, dẫn chứng bản án và các quy phạm thực định để làm sáng tỏ luận điểm.
    • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Việt Nam với các hệ thống Civil Law và Common Law; so sánh điểm mới giữa BLDS 2015 và các bộ luật trước đó.
    • Phương pháp bình luận án: Phân tích thực tiễn áp dụng quy phạm pháp luật qua các vụ việc cụ thể tại Tòa án.
  • Nguồn dữ liệu:
    • Các công trình chuyên khảo của Phùng Trung Tập (2017), Nguyễn Văn Hợi (2020), Đỗ Văn Đại (2022), Trần Thị Huệ (2013);
    • Các bài báo khoa học và luận văn/luận án chuyên ngành của Vũ Thị Lan Hương, Lê Thị Giang, Đinh Văn Trường, Phạm Quang Tiến, Đặng Thị Lan Anh, Nguyễn Mai Khả Duyên, Nguyễn Thanh Hồng, Vũ Thị Hồng Yến, Đào Trọng Hưng, Nguyễn Tri Tuấn, Đinh Phương Thảo;
    • Án lệ quốc tế (Draper v Hodder 1972, Pitcher v Martin 1937, Brown v Cotterill 1934, Stennet v Hancock and Peters 1939, Leeman v Montagu 1937, Wheeler v J Saunder 1996, Cummings v Granger 1977);
    • Dữ liệu các vụ việc thực tế tại Việt Nam giai đoạn 2023–2024.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu do tài sản gây ra

Chương 1 thiết lập khung khái niệm và các dấu hiệu pháp lý bản chất của TNBTTH của chủ sở hữu khi tài sản gây ra:

  1. Khái niệm: Tác giả định nghĩa TNBTTH của chủ sở hữu do tài sản gây ra là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất, tinh thần của cá nhân hoặc tổ chức sở hữu tài sản khi tài sản thuộc quyền sở hữu của họ gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác.
  2. Đặc điểm pháp lý:
    • Mang các đặc điểm chung của trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng (tính chất tài sản, là hậu quả bất lợi, phát sinh khi có thiệt hại thực tế, được bảo đảm bằng cưỡng chế nhà nước, không phụ thuộc vào hợp đồng trước đó).
    • Mang đặc điểm đặc thù: Tổn thất bắt nguồn từ hoạt động tự thân, nội tại của tài sản; lỗi không phải là điều kiện bắt buộc phải chứng minh đối với nạn nhân.
  3. Căn cứ phát sinh trách nhiệm:
    • Phân tích hai luồng quan điểm về yếu tố lỗi. Tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai (thuyết trách nhiệm khách quan), theo đó trách nhiệm phát sinh dựa trên 03 căn cứ khách quan:
      • (i) Có thiệt hại thực tế xảy ra (xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản);
      • (ii) Có hoạt động/sự kiện gây thiệt hại từ bản thân tài sản;
      • (iii) Có mối quan hệ nhân quả trực tiếp hoặc gián tiếp giữa sự tác động của tài sản và thiệt hại thực tế.
  4. Phân biệt hai loại trách nhiệm:
    • TNBTTH do hành vi của con người có liên quan đến tài sản: Tài sản chỉ đóng vai trò phương tiện, công cụ hoặc việc gây thiệt hại xuất phát từ hành vi sai phạm, bất cẩn trong vận hành, bảo quản của con người.
    • TNBTTH do bản thân tài sản gây ra: Thiệt hại phát sinh thuần túy từ đặc tính nội tại, sự biến đổi vật lý/sinh học tự thân của tài sản ngoài tầm kiểm soát của con người, không có yếu tố lỗi cố ý hay vô ý từ hành vi trực tiếp.
  5. Trường hợp loại trừ trách nhiệm:
    • Sự kiện bất khả kháng (sự kiện khách quan, không thể lường trước và không thể khắc phục dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết).
    • Hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại (người bị hại tự ý chấp nhận rủi ro hoặc cố tình vi phạm cảnh báo).

Chương 2: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu do tài sản gây ra

Chương 2 phân tích quy định thực định tại BLDS năm 2015 đối với từng nhóm tài sản cụ thể và đánh giá ưu/nhược điểm:

  1. Trách nhiệm theo từng loại tài sản:
    • Nguồn nguy hiểm cao độ (Điều 601): Chủ sở hữu phải bồi thường ngay cả khi không có lỗi; chỉ được miễn trừ khi thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, hoặc trong tình thế cấp thiết, sự kiện bất khả kháng. Trường hợp đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng hợp pháp thì người này chịu trách nhiệm, trừ khi có thỏa thuận khác.
    • Súc vật (Điều 603): Xác định trách nhiệm của chủ sở hữu khi trực tiếp chiếm hữu/sử dụng; trách nhiệm liên đới với người chiếm hữu bất hợp pháp khi chủ sở hữu có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu trái phép; trách nhiệm liên đới với người thứ ba khi cả hai cùng có lỗi; và trách nhiệm bồi thường theo tập quán khi súc vật thả rông.
    • Cây cối (Điều 604): Trách nhiệm gắn liền với nghĩa vụ quản lý, bảo đảm an toàn (chặt tỉa cành nguy hiểm theo Điều 177) và nguyên tắc chịu rủi ro (Điều 162). Quy định mở rộng cho mọi thiệt hại phát sinh từ cây cối, không còn bó hẹp ở việc "đổ, gãy" như BLDS 2005.
    • Nhà ở, công trình xây dựng khác (Điều 605): Quy định chủ sở hữu phải bồi thường thiệt hại phát sinh do biến đổi kết cấu, nghiêng, lún, nứt, sụp đổ hoặc tạo áp lực địa chất lên công trình liền kề. Đồng thời quy định trách nhiệm liên đới bồi thường của người thi công khi có lỗi.
  2. So sánh cơ chế loại trừ trách nhiệm:
    • Điều 601 (Khoản 3) áp dụng cơ chế chặt chẽ hơn cho nguồn nguy hiểm cao độ: Yêu cầu lỗi của người bị hại phải là "lỗi cố ý", bổ sung trường hợp "tình thế cấp thiết".
    • Điều 584 (Khoản 2, 3) áp dụng cho tài sản thông thường (súc vật, cây cối, công trình xây dựng): Loại trừ khi có "sự kiện bất khả kháng" hoặc "hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại" (không phân biệt cố ý hay vô ý).
  3. Đánh giá ưu điểm của BLDS năm 2015:
    • Tiếp cận phù hợp với xu thế quốc tế về trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability);
    • Mở rộng phạm vi điều chỉnh không giới hạn vào các phương thức gây thiệt hại định danh;
    • Linh hoạt ghi nhận quyền tự do thỏa thuận phân chia trách nhiệm giữa chủ sở hữu và bên chiếm hữu/sử dụng thực tế;
    • Nâng cao tính răn đe, ràng buộc nghĩa vụ quản lý tài sản an toàn của chủ sở hữu.
+--------------------------+-----------------------------+---------------------------------------+
| Loại tài sản gây hại     | Điều khoản BLDS 2015        | Căn cứ loại trừ / Miễn trách nhiệm    |
+--------------------------+-----------------------------+---------------------------------------+
| Nguồn nguy hiểm cao độ   | Điều 601                    | 1. Hoàn toàn do lỗi cố ý của bị hại   |
|                          |                             | 2. Bất khả kháng / Tình thế cấp thiết |
+--------------------------+-----------------------------+---------------------------------------+
| Súc vật                  | Điều 603 (và Điều 584)      | 1. Hoàn toàn do lỗi của bên bị hại    |
|                          |                             | 2. Sự kiện bất khả kháng              |
+--------------------------+-----------------------------+---------------------------------------+
| Cây cối                  | Điều 604 (và Điều 584)      | 1. Hoàn toàn do lỗi của bên bị hại    |
|                          |                             | 2. Sự kiện bất khả kháng              |
+--------------------------+-----------------------------+---------------------------------------+
| Nhà ở, công trình xây    | Điều 605 (và Điều 584)      | 1. Hoàn toàn do lỗi của bên bị hại    |
| dựng khác                |                             | 2. Sự kiện bất khả kháng              |
+--------------------------+-----------------------------+---------------------------------------+

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu khi tài sản gây ra

Chương 3 tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật tại Tòa án và xây dựng hệ thống kiến nghị:

  1. Thực tiễn xét xử:
    • Căn cứ phát sinh: Tòa án gặp lúng túng trong việc xác định tài sản tự thân gây hại hay có sự can thiệp của con người;
    • Xác định chủ thể chịu trách nhiệm: Khó khăn khi tài sản được chuyển giao qua nhiều chủ thể (cho thuê, cho mượn, giao việc) mà không có hợp đồng bằng văn bản rõ ràng;
    • Phân biệt hành vi con người và hoạt động của tài sản: Việc nhầm lẫn giữa lỗi điều khiển phương tiện giao thông và lỗi kỹ thuật tự phát sinh của phương tiện;
    • Áp dụng quy định loại trừ: Khó khăn trong việc xác định ranh giới giữa "sự kiện bất khả kháng" với sự thiếu trách nhiệm bảo dưỡng, tỉa cành, gia cố công trình của chủ sở hữu.
  2. Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành:
    • Bổ sung văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các tiêu chí xác định "lỗi tự thân của tài sản" và "hoạt động của tài sản";
    • Hướng dẫn cụ thể cơ chế phân định trách nhiệm liên đới giữa chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp và người chiếm hữu bất hợp pháp;
    • Quy định rõ hơn tiêu chuẩn đánh giá sự kiện bất khả kháng trong các vụ việc thiên tai đối với cây cối và công trình xây dựng;
    • Hoàn thiện chế tài và quy định về bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc đối với các nhóm tài sản có độ nguy hiểm cao.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết pháp lý từ Luật La Mã cổ đại, hệ thống Civil Law và Common Law đến pháp luật Việt Nam về cơ chế bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra.
    • Khẳng định và làm rõ xu hướng lập pháp hiện đại: Chuyển dịch từ trách nhiệm dựa trên lỗi sang trách nhiệm khách quan/nghiêm ngặt đối với chủ sở hữu tài sản.
    • Phân tích chi tiết các điều kiện phát sinh trách nhiệm, căn cứ loại trừ và cơ chế liên đới bồi thường theo Điều 601, 603, 604, 605 BLDS năm 2015 dựa trên các dẫn chứng thực tế (như vụ ngã cây Công viên Tao Đàn năm 2024, vụ cháy Khương Hạ năm 2023).
  • Kiến nghị tác giả đề xuất:
    • Hoàn thiện văn bản giải thích pháp luật nhằm phân định rõ ràng giữa hành vi con người sử dụng tài sản gây thiệt hại với việc bản thân tài sản tự gây thiệt hại;
    • Làm rõ mức độ lỗi và nghĩa vụ liên đới của chủ sở hữu trong trường hợp súc vật, tài sản bị chiếm hữu trái pháp luật;
    • Chuẩn hóa các quy tắc phòng ngừa rủi ro (tỉa cành cây theo Điều 177, bảo trì công trình) để làm căn cứ loại trừ sự kiện bất khả kháng.
  • Đóng góp khoa học:
    • Khắc phục tính đơn lẻ, cục bộ của các nghiên cứu trước đây (vốn chỉ khảo sát riêng lẻ từng loại tài sản như súc vật, cây cối, hoặc công trình xây dựng) bằng việc xây dựng một bức tranh tổng thể, có tính hệ thống và so sánh đa diện về toàn bộ chế định trách nhiệm của chủ sở hữu khi tài sản gây thiệt hại trong pháp luật dân sự Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Đề tài tập trung nghiên cứu trong khuôn khổ chế định Luật Dân sự Việt Nam (trọng tâm là BLDS năm 2015) và thực tiễn xét xử 4 nhóm tài sản truyền thống (nguồn nguy hiểm cao độ, súc vật, cây cối, công trình xây dựng);
    • Chưa mở rộng nghiên cứu sâu các quy định chuyên ngành ngoài dân sự (như Luật Lâm nghiệp, Luật Xây dựng, Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu cơ chế bồi thường thiệt hại đối với các dạng tài sản mới, tài sản tự động hóa, thiết bị ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), phương tiện tự hành;
    • Mở rộng phân tích cơ chế gắn kết giữa trách nhiệm dân sự của chủ sở hữu tài sản và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự bắt buộc.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Kinh tế;
    • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân, Luật sư và Chuyên viên pháp chế doanh nghiệp trong quá trình giải quyết tranh chấp bồi thường ngoài hợp đồng.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Hệ thống so sánh án lệ quốc tế của Anh, Pháp, Mỹ về trách nhiệm nghiêm ngặt (Strict Liability);
    • Bộ tiêu chí phân biệt giữa thiệt hại do hành vi con người có liên quan đến tài sản và thiệt hại do chính bản thân tài sản tự gây ra;
    • Phân tích chi tiết về căn cứ phát sinh và trường hợp loại trừ trách nhiệm theo các Điều 584, 601, 603, 604, 605 BLDS năm 2015.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quan điểm của tác giả khóa luận, yếu tố lỗi có phải là căn cứ bắt buộc để làm phát sinh TNBTTH của chủ sở hữu khi tài sản gây ra không?
Không. Tác giả ủng hộ thuyết "Trách nhiệm khách quan" và nguyên tắc "Trách nhiệm nghiêm ngặt", khẳng định rằng yếu tố lỗi của chủ sở hữu không phải là điều kiện bắt buộc phải chứng minh. Trách nhiệm phát sinh dựa trên 03 căn cứ khách quan: (i) có thiệt hại thực tế xảy ra; (ii) có hoạt động/sự kiện gây thiệt hại từ bản thân tài sản; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa sự tác động của tài sản và thiệt hại.

2. Điểm khác biệt cốt lõi giữa trách nhiệm do hành vi con người có liên quan đến tài sản và trách nhiệm khi bản thân tài sản gây thiệt hại là gì?
Sự khác biệt nằm ở nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại. Nếu thiệt hại xuất phát từ hành vi trực tiếp của con người (sử dụng xe chạy quá tốc độ, ném dao, cắm nhầm điện áp...), tài sản chỉ là công cụ/phương tiện và trách nhiệm thuộc về người thực hiện hành vi. Ngược lại, nếu thiệt hại phát sinh từ đặc tính tự thân, lỗi kỹ thuật nội tại của tài sản ngoài ý chí con người (xe đang đỗ tự trôi do lỗi phanh, cành cây tự gãy rơi, tường nhà tự sập...), thì phát sinh trách nhiệm của chủ sở hữu/người quản lý do chính bản thân tài sản gây ra.

3. Trong trường hợp súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật mà gây thiệt hại, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm như thế nào theo Điều 603 BLDS 2015?
Theo Khoản 3 Điều 603 BLDS năm 2015, chủ sở hữu chỉ phải liên đới bồi thường thiệt hại cùng với người chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nếu chủ sở hữu có lỗi trong việc để súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái phép (vi phạm nghĩa vụ quản lý, trông coi tài sản). Nếu chủ sở hữu không có lỗi, trách nhiệm bồi thường hoàn toàn thuộc về người đang chiếm hữu, sử dụng trái phép súc vật đó.

4. Căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường đối với nguồn nguy hiểm cao độ (Điều 601) có điểm gì khác biệt so với các tài sản thông thường (Điều 584)?
Quy định tại Khoản 3 Điều 601 BLDS năm 2015 áp dụng cho nguồn nguy hiểm cao độ chặt chẽ hơn: chủ sở hữu chỉ được miễn trừ khi thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại, hoặc trong tình thế cấp thiết, sự kiện bất khả kháng. Trong khi đó, theo Khoản 2 Điều 584 áp dụng cho các tài sản thông thường khác (súc vật, cây cối, công trình xây dựng), chủ sở hữu được miễn trừ khi thiệt hại hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại (bao gồm cả lỗi vô ý lẫn cố ý) hoặc do sự kiện bất khả kháng, không quy định trường hợp tình thế cấp thiết.

5. BLDS năm 2015 đã khắc phục hạn chế nào của BLDS năm 2005 đối với thiệt hại do cây cối và công trình xây dựng gây ra?
BLDS năm 2005 giới hạn phạm vi phát sinh trách nhiệm trong các hành vi định danh cụ thể: cây cối phải bị "đổ, gãy" (Điều 626), công trình xây dựng phải bị "sụp đổ, hư hỏng, sụt lở" (Điều 627). BLDS năm 2015 (Điều 604, Điều 605) đã mở rộng phạm vi áp dụng đối với mọi dạng thiệt hại thực tế phát sinh từ cây cối và công trình xây dựng (như cây phát tán chất độc, công trình gây biến dạng cấu trúc, nghiêng, lún, tạo áp lực địa chất lên nhà liền kề), giúp bảo vệ quyền lợi nạn nhân toàn diện hơn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hồ Vũ Quỳnh Anh đã hệ thống hóa và phân tích sâu sắc các khía cạnh lý luận, thực định và thực tiễn xét xử về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ sở hữu do tài sản gây ra theo quy định của BLDS năm 2015. Bằng cách đối chiếu luật học so sánh quốc tế và phân tích các sự cố thực tế điển hình, công trình đã làm sáng tỏ bản chất của chế định trách nhiệm nghiêm ngặt không phụ thuộc lỗi đối với chủ sở hữu tài sản. Các kiến nghị hoàn thiện điều luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành được đề xuất trong khóa luận mang giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp, giảng dạy học thuật và thực tiễn tư pháp tại Việt Nam.