CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự 1. Khái niệm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự Để làm rõ khái niệm các tình tiết tăng nặng TNHS thì phải nói đến chính sách hình sự. Chính sách hình sự bao hàm nhiều nội dung, một trong các nội dung đó là chính sách về tội phạm, với tính cách là một hiện tượng xã hội.
Tội phạm xảy ra xâm phạm đến các quan hệ xã hội khác nhau có tính chất và mức độ nguy hiểm khác nhau, nhưng nếu cùng xâm phạm đến một quan hệ xã hội thì mỗi hành vi phạm tội cũng có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau. Nếu tính chất và mức độ xâm phạm như nhau thì vẫn có yếu tố khác nhau như: nhân thân người thực hiện hành vi phạm tội, không gian, thời gian, địa điểm, hoàn cảnh lúc phạm tội…Chính do sự khác nhau này mà nhà làm luật không thể quy định mức hình phạt cụ thể cho từng hành vi phạm tội mà chỉ quy định khung hình phạt cho một nhóm hành vi giống nhau cơ bản về chất nhưng khác nhau về lượng. Sự khác nhau về lượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố và được nhà làm luật quy định trong BLHS thành hai nhóm tình tiết có nội dung, ý nghĩa trái ngược nhau. Nếu các yếu tố nào làm thay đổi mức độ của hành vi phạm tội theo hướng ít nghiêm trọng hơn, thì gọi là “tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”, còn những yếu tố nào làm thay đổi mức độ của hành vi phạm tội theo hướng nghiêm trọng hơn, thì gọi là “ tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự”.
Hiện nay, trong pháp luật hình sự thực định (BLHS năm 1999) nhà làm luật 8 nước ta không ghi nhận định nghĩa pháp lý của khái niệm này, đồng thời trong khoa học luật hình sự Việt Nam cũng còn nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, dưới góc độ khái quát nhất, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tình tiết trong một vụ án cụ thể làm tăng mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và người phạm tội phải chịu một hình phạt nghiêm khắc hơn trong một khung hình phạt, phản ánh nhu cầu cải tạo, giáo dục người phạm tội và nhân thân người phạm tội, thể hiện khả năng giáo dục cải tạo người phạm tội. Đặc điểm của các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam Mặc dù, có ba loại tình tiết tăng nặng là tình tiết tăng nặng định tội, tình tiết tăng nặng định khung và tình tiết tăng nặng chung nhưng chúng đều có những đặc điểm chung thể hiện bản chất, ý nghĩa pháp lý của tình tiết tăng nặng TNHS. Với tính cách là tình tiết tăng nặng chung các tình tiết tăng nặng TNHS có đặc điểm sau đây: Thứ nhất, làm tăng tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, các tình tiết này làm thay đổi mức độ nguy hiểm của tội phạm theo hướng nghiêm trọng hơn tùy theo từng trường hợp cụ thể hoặc người phạm tội.
Đây là những tình tiết tăng nặng chung, được áp dụng cho nhiều loại tội phạm. Thứ hai, các tình tiết tăng nặng TNHS có sự ổn định về số lượng và nội dung. Tuy nhiên, sự ổn định này chỉ mang tính tương đối. Trong quá trình phát triển của xã hội có những tội phạm mới phát sinh, tính chất, đặc điểm của tội phạm cũng thay đổi.
Có những tội thì nguy hiểm hơn, có những tội thì ít nguy hiểm đi, có những loại tội phạm lại tăng lên, xảy ra phổ biến hơn và xảo quyệt hơn. Do vậy, từ góc độ lập pháp, tình tiết tăng nặng TNHS với vai trò bảo đảm xử lý nghiêm minh tội phạm cũng phải được điều chỉnh phù hợp. Có những tình tiết mới được đưa vào, có những tình tiết phải bỏ đi, có những 9 tình tiết đưa từ tình tiết tăng nặng chung lên thành tình tiết tăng nặng định khung, có nhưng tình tiết tăng nặng định khung được chuyển thành tình tiết tăng nặng định tội… Ví dụ: BLHS năm 1985 chưa quy định tình tiết “Lợi dụng chức vụ cao để phạm tội”, đến kỳ họp thứ 11, Quốc hội khóa IX, ngày 10/5/1997, tình tiết này mới được quy định là tình tiết tăng nặng TNHS (điểm c khoản 1 Điều 39), nhưng khi ban hành BLHS năm 1999 thì tình tiết này được thay thế bằng tình tiết “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” (điểm c khoản 1 Điều 48), hoặc trước đây hành vi gây thương tích cho trẻ em chỉ được quy định là tình tiết tăng nặng chung, nay trong BLHS năm 1999, gây thương tích cho trẻ em được quy định là tình tiết tăng nặng định khung của tội “ Cố ý gây thương tích”. Hoặc do yêu cầu đấu tranh phòng, chống HIV/AIDS nên tình tiết tăng nặng “Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội” lần đầu tiên được đưa vào BLHS và được quy định là tình tiết tăng nặng định khung ở một số tội xâm phạm tình dục như: Hiếp dâm, cưỡng dâm…Do đó, nếu chưa được bổ sung vào BLHS, thì các Tòa án nhất thiết không được tùy tiện bổ sung vào những tình tiết mà BLHS không quy định để tăng nặng TNHS đối với người phạm tội.
Thứ ba, về nguyên tắc, chỉ những tình tiết tăng nặng nào đã được quy định trong BLHS thì Tòa án mới được áp dụng là tình tiết tăng nặng TNHS để tăng hình phạt đối với người phạm tội. Xác định đúng các tình tiết tăng nặng TNHS không chỉ “là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt một cách công minh, có căn cứ và đúng pháp luật ” mà còn là “một trong những cơ sở áp dụng chính xác các quy phạm pháp luật hình sự” [4,tr 7-8]. Khi truy tố, xét xử, chỉ những tình tiết nào được quy định trong BLHS mới được áp dụng là tình tiết tăng nặng TNHS để tăng hình phạt đối với bị cáo, không được suy diễn, coi những tình tiết ngoài BLHS là tình tiết tăng nặng TNHS. Đây cũng là đặc điểm khác biệt cơ bản của tình tiết tăng nặng 10 TNHS so với tình tiết giảm nhẹ TNHS bởi khoản 2 Điều 46 BLHS quy định: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án còn có thể coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ trong bản án”.
Đặc điểm này thể hiện các nguyên tắc pháp chế, bình đẳng, nhân đạo, bảo vệ quyền con người.“cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ của việc quyết định hình phạt công bằng” [44,tr184]. Nhiều Tòa án khi xét xử, coi những hành vi vi phạm pháp luật khác chưa cấu thành tội phạm, hoặc những trường hợp chưa đủ chứng cứ để chứng minh bị cáo phạm thêm một tội khác là tình tiết tăng nặng hình phạt khi lượng hình là không đúng, trái với nguyên tắc của Luật hình sự Việt Nam. Ví dụ: bị cáo Nguyễn Văn H bị truy tố, xét xử về tội hủy hoại rừng, có người khai H còn có hành vi cưỡng đoạt tài sản nhưng chưa đủ căn cứ để kết tội, nên HĐXX đã coi đó là yếu tố để xem xét khi lượng hình. Đây là quan điểm trái ngược hoàn toàn với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật hình sự.
Thứ tư, các tình tiết tăng nặng TNHS có nội dung khác nhau. Do đó, mức độ ý nghĩa tăng TNHS đối với người phạm tội cũng khác nhau, ví dụ: tình tiết tái phạm nguy hiểm khác tình tiết tái phạm về mức độ tăng nặng. Trong một tình tiết, mức độ tăng TNHS cũng khác nhau nếu như nó được xem xét với hành vi phạm tội khác nhau hoặc với người phạm tội khác nhau, ví dụ: đều là phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt nhưng phạm tội do cố ý mức độ tăng nặng hơn phạm tội do vô ý. Mỗi tình tiết tăng nặng TNHS chỉ có ý nghĩa áp dụng đối với một hoặc một số hành vi phạm tội hoặc đối với một số người phạm tội chứ không thể áp dụng đối với tất cả các tội phạm hoặc đối với tất cả người phạm tội, ví dụ: tình tiết “Xâm phạm tài sản của nhà nước” chỉ áp dụng đối với những tội xâm phạm sở hữu và đó phải là tài sản của nhà nước.
Khi áp dụng các tình tiết tăng nặng đối với người phạm tội. Tòa án “phải 11 làm sáng tỏ ý thức chủ quan của người phạm tội để xét trường hợp này họ có phải thấy trước được tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự hay không, thì mới được áp dụng tình tiết tăng nặng đó đối với họ”. Trường hợp có căn cứ chứng minh rằng họ không thể thấy trước được hoặc không thấy được thì dù tình tiết đó có xảy ra người phạm tội cũng không phải chịu trách nhiệm đối với tình tiết tăng nặng TNHS, ví dụ: một người gây thương tích cho một phụ nữ có thai, nhưng hoàn toàn không biết nạn nhân có thai, thì họ không bị coi là phạm tội đối với phụ nữ có thai. Chỉ những tình tiết tăng nặng TNHS có liên quan đến hành vi phạm tội đang được xét xử, ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mới được xem là tình tiết tăng nặng TNHS, ví dụ: một người đang bị truy tố về hành vi cố ý gây thương tích thì bị một số người viết đơn tố cáo về việc người này nợ tiền họ chưa trả.
Tình tiết này không phải là tình tiết tăng nặng TNHS. Thứ năm, tình tiết tăng nặng TNHS trong một vụ án cụ thể và đối với người phạm tội cụ thể chỉ làm thay đổi mức độ TNHS đối với người phạm tội trong vụ án đó và cũng chỉ làm thay đổi mức độ TNHS trong phạm vi một cấu thành chứ không làm thay đổi tính chất của tội phạm ấy. Các tình tiết tăng nặng TNHS chỉ làm thay đổi mức độ nguy hiểm chứ không làm thay đổi tính chất nguy hiểm. Điều đó không có nghĩa là tất cả các tình tiết quy định ở Điều 48 BLHS không có tình tiết nào làm thay đổi tính chất của tội phạm.
Nhưng khi đã coi là tình tiết tăng nặng thì nó không làm thay đổi tính chất nguy hiểm, còn nếu tình tiết nào đó mà nhà làm luật quy định là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt, tức là các tình tiết đó đã làm thay đổi tính chất nguy hiểm của tội phạm thì không còn là tình tiết tăng nặng TNHS nữa.