CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÌNH PHẠT VÀ HÌNH PHẠT TIỀN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH CỦA HÌNH PHẠT.1 Khái niệm hình phạt. Tội phạm là một hiện tuợng xã hội tiêu cực có tính nguy hiểm cao cho xã hội, mang tính lịch sử và bản chất giai cấp sâu sắc. Đấu tranh với tội phạm là nhiệm vụ tất yếu khách quan nhằm bảo vệ và duy trì điều kiện tồn tại của giai cấp thống trị, của nhà nước trong bất kì một xã hội nào. Hình phạt được coi là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, là công cụ hữu hiệu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.
Mác đã từng viết: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho lợi ích giai cấp thống trị trong một xã hội nhất định”(1) và “Hình phạt chẳng qua là thủ đoạn tự vệ của xã hội với những hành vi xâm phạm những điều kiện tồn tại của xã hội đó”12). Trong lịch sử luật hình sự Việt Nam, chế định hình phạt cùng chế định tội phạm là những chế định quan trọng nhất của luật hình sự Việt Nam. Có rất nhiều quan điểm khoa học xung quanh chế định hình phạt. Có thể phân chúng thành hai trường phái quan niệm chính sau: Quan niệm thứ nhất: Hình phạt là công cụ trả thù người phạm tội.
Hình phạt nhằm gây đau đớn về thể xác, bôi nhọ danh dự nhân phẩm của người phạm tội. Đây là quan niệm phổ biến về hình phạt trong pháp luật nhà nước phong kiến và chiếm hữu nô lệ. Quan niệm thứ hai: Hình phạt là công cụ đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Đây là quan niệm tiến bộ về hình phạt.
Quan niệm đó được thể chế hoá trong đường lối chính sách hình sự của Nhà nước ta, đồng thời được cụ thể hóa trong pháp luật hình sự nước Việt Nam XHCN. Angghen toàn tập, tập 8, trang 531. Phạm Thị Thùy Linh – Lớp HS28D Khóa luận tốt nghiệp 5 Trong Bộ luật hình sự năm 1985 cũng như trong các văn bản pháp luật hình sự trước đó tuy chưa có khái niệm pháp lý về hình phạt song trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ sở đào tạo có rất nhiều quan điểm nhìn chung là thống nhất về hình phạt. Có thể viện dẫn một vài quan điểm về hình phạt sau đây: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất quy định trong luật hình sự được Toà án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm nhằm trừng trị và cải tạo họ, góp phần vào việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.” [10 - Tr 271] “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế do Toà án quyết định trong bản án với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án.” [17 - Tr 194] “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế Nhà nước do Toà án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm theo quy định của luật hình sự, tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục đích giáo dục cải tạo người phạm tội nhằm ngăn ngừa họ phạm tội mới.” [14 - Tr 23] “Hình phạt là biện cưỡng chế Nhà nước được luật hình sự quy định và do Toà án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền và lợi ích của người phạm tội, nhằm trừng trị, giáo dục họ cũng như nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm.
Bộ luật hình sự năm 1999 được Quốc Hội thông qua ngày 21/12/1999 tại kì họp thứ 6, khoá X có hiệu lực từ ngày 1/7/2000, lần đầu tiên đã đưa ra khái niệm pháp lý chính thức của hình phạt tại Điều 26: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước đoạt hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong BLHS và do Toà án quyết định .” Phạm Thị Thùy Linh – Lớp HS28D Khóa luận tốt nghiệp 6 Thật ra, cách diễn đạt của Điều 26 - BLHS năm 1999 là chưa thật chính xác: “Hình phạt có nội dung pháp lí là tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội chứ không phải có mục đích nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp đó” [25 - Tr 24]. Do vậy, từ “nhằm” trong Điều 26 là thừa. Tuy vậy việc xây dựng được một khái niệm pháp lý chính thức tương đối hoàn chỉnh, thể hiện khá đầy đủ nội dung, bản chất, đặc điểm của hình phạt dưới góc độ một chế tài hình sự có ý nghĩa lí luận và thực tiễn lớn trong khoa học luật hình sự.
Phân tích khái niệm hình phạt tại Điều 26, ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của hình phạt như sau: Thứ nhất: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nhà nước có tính nghiêm khắc nhất trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế. So với các biện pháp cưỡng chế khác (biện pháp cưỡng chế hành chính, biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự, các biện pháp tư pháp khác trong luật hình sự) thì hình phạt hạn chế hoặc tước bỏ những quyền và lợi ích thiết thân của người phạm tội như quyền sống (hình phạt tử hình), quyền tự do (hình phạt tù có thời hạn), quyền sở hữu (hình phạt tiền). Ngoài nội dung trên, hình phạt bao giờ cũng để lại cho người bị kết án hậu quả pháp lý là án tích trong một thời hạn nhất định theo quy định của BLHS. Án tích là đặc điểm nhân thân bất lợi cho người phạm tội trong đời sống xã hội, trong khi người phạm tội có hành vi vi phạm pháp luật.
Án tích có thể bị coi là tình tiết định tội (khoản 1 Điều 143 BLHS năm 1999), tình tiết định khung tăng nặng (điểm c khoản 2 Điều 143 BLHS năm 1999), tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS). Thứ hai: Hình phạt chỉ có thể đuợc áp dụng với người có hành vi phạm tội, điểm này đã thể hiện rõ tính pháp chế của luật hình sự Việt Nam. Mọi công dân đều phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình theo quy định của pháp luật. Điều 2 BLHS 1999: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự ”.
Như vậy Luật hình Phạm Thị Thùy Linh – Lớp HS28D Khóa luận tốt nghiệp 7 sự Việt Nam không cho phép người khác chịu hình phạt thay cho người phạm tội. Thứ ba : Hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự. Trong BLHS năm 1999 hình phạt được quy định ở phần chung và phần các tội phạm. Phần chung quy định về khái niệm, mục đích, hệ thống hình phạt.
Phần các tội phạm quy định các loại và mức hình phạt cho từng tội phạm cụ thể. Việc quy định hình phạt trong BLHS đảm bảo tính nghiêm minh, tính hợp pháp, và thống nhất cho việc quyết định hình phạt trên thực tế. Thứ tư: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế được áp dụng theo trình tự riêng biệt. Toà án là cơ quan duy nhất có quyền nhân danh nhà nước áp dụng hình phạt cho người phạm tội.
Điều 45 BLHS năm 1999 quy định về căn cứ quyết định hình phạt: “Khi quyết định hình phạt Toà án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự”. Như vậy chỉ có Toà án dựa trên những căn cứ luật định mới được quyết định hình phạt đối với người phạm tội khi họ thực hiện một tội phạm nhất định. Những đặc điểm cơ bản trên đây giúp ta phân biệt hình phạt với các biện pháp cưỡng chế khác của nhà nước như các biện pháp cưỡng chế hành chính (cảnh cáo, phạt tiền); cưỡng chế trong luật tố tụng hình sự (bắt người, tạm giam, tạm giữ.); các biện pháp tư pháp khác trong luật hình sự và góp phần làm rõ bản chất của hình phạt.Mục đích hình phạt : Hình phạt tuy không ảnh hưởng trực tiếp đến những điều kiện và nguyên nhân làm phát sinh tội phạm. Nhưng hình phạt với nội dung hạn chế hoặc tước bỏ những quyền và lợi ích của người phạm tội có những ảnh hưởng, những tác động nhất định đối với người phạm tội cũng như những nguời khác trong xã hội theo những khuynh hướng khác nhau.
Những khuynh hướng tác động đó chính là mục đích của hình phạt. Phạm Thị Thùy Linh – Lớp HS28D Khóa luận tốt nghiệp 8 Mục đích của hình phạt sẽ quyết định việc quy định từng loại hình phạt nói riêng và hệ thống hình phạt nói chung, quyết định những quy định về hình phạt trong luật và việc áp dụng hình phạt trong thực tế. Chính vì vậy mục đích của hình phạt là vấn đề có ý nghĩa không chỉ về mặt lí luận mà còn có ý nghĩa đặc biệt trong thực tiễn. Bộ luật Hình sự 1985 tuy chưa đưa ra được khái niệm pháp lý về hình phạt xong mục đích hình phạt thì đã được quy phạm hoá tại Điều 20.
Trong BLHS năm 1999 mục đích hình phạt được quy định tại Điều 27: “Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn nhằm cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm mục đích giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm”. Tuy mục đích hình phạt đã được quy định trong luật hiện hành nhưng trong nhận thức của các nhà nghiên cứu vẫn chưa đạt được sự thống nhất. Một số học giả trong các công trình nghiên cứu của mình cho rằng: “Trừng trị là nội dung, là thuộc tính, là phương thức thực hiện hình phạt, trừng trị là tiền đề quan trọng để đạt được mục đích phòng ngừa tội phạm” [14 - Tr 25].
Các nhà khoa học theo trường phái này chỉ thừa nhận giáo dục, phòng ngừa là mục đích của hình phạt còn trừng trị chỉ là tiền đề để đạt được mục đích đó mà thôi. Nhưng trong giáo trình của một số trường đại học, của nhiều cơ sở đào tạo khác nhau các tác giả đều thống nhất hình phạt trong luật hình sự có mục đích trừng trị.