Mở đầu cuốn sách (trang 1a) là Bài ca khuyên học toán ( 学算 ) như sau: "Trước thời cho biết phép thương lường, Tính toán bình nay ở cửu chương. Thông hay mọi nhẽ đều vinh hiển, Suy biết trăm đường giúp thánh vương." 7 - Trang 1b, 2a viết về Bảng Cửu Chương -Các trang 2b đến 6a, trang 8a viết về một số qui tắc tính toán và một số bài toán dưới dạng thơ. - Trang 6b các bài toán về thơ chữ Hán và chữ Nôm (dạng toán đố). - Trang 7a, 7b, 38a, 38b là các bài toán về khai phương (khai căn bậc hai).
- Trang 8b, 9a, 9b, 14b, 15a, 15b viết về phép Bình phân: Có số tiền S sẽ được chia đều cho N người. - Trang 26a,64a là các bài toán tính chiều cao của một đối tượng khi chiều cao của đối tượng khác và độ dài của bóng của cả hai đối tượng đã biết. - Các trang từ 26b đến 29a là các bài toán thuộc nhiều lĩnh vực khác như các bài toán về trao đổi mua bán. - Trang 29b, 30a, 31b là các vấn đề về đại số như thiết lập và giải hệ phương trình, phương trình.
- Trang 32b, 33a là các bài toán chia tổng S (số tiền) cho N i đối tượng (người) theo tỉ lệ Ai. - Trang 41b, 42a, 42b, 43a là thuật toán phụ trợ dùng để chuyển đổi một loại đơn vị tiền tệ này sang một đơn vị tiền tệ khác. - Trang 44a, 45a, 53b là các bài toán về diện tích và tính toán khối lượng của một khối đa diện. -Các trang từ 54a đến 67a có nội dung thuộc nhiều lĩnh vực: tính ngày sinh con trái con gái, phương trình vô định, bài toán thặng dư Trung Hoa.
Chi tiết hơn về nguồn gốc và nội dung cuốn sách Toán pháp đại thành có thể xem trong [6] và [11b] và Chương 2 luận văn này. 8 Chương 2 NỘI DUNG TOÁN PHÁP ĐẠI THÀNH 2.1 Tính toán số học trong Toán pháp đại thành 2.1 Bảng cửu chương Toán pháp đại thành bắt đầu bằng Bảng cửu chương (trang 1b và trang 2a bản B): Cửu cửu bát thập nhất (9 x 9 = 81); Bát cửu thất thập nhị (8 x 9 = 72); Thất cửu lục thập tam (7 x 9 = 63); Lục cửu ngũ thập tứ (6 x 9 = 54); Ngũ cửu tứ thập ngũ (5 x 9 = 45); Tứ cửu tam thập lục (4 x 9 = 36); Tam cửu nhị thập thất (3 x 9 = 27); Nhị cửu nhất thập bát (2 x 9 = 18); Nhất cửu như cửu (1 x 9 = 9); Bát bát lục thập tứ (8 x 8 = 64); Thất bát ngũ thập lục (7 x 8 = 56); Lục bát tứ thập bát (6 x 8 = 48); Ngũ bát tứ thập chi (5 x 8 = 40); Tứ bát tam thập nhị (4 x 8 = 32); Tam bát nhị thập tứ (3 x 8 = 24); Nhị bát nhất thập lục (2 x 8 = 16); Nhất bát như bát (1 x 8 = 8); Thất thất tứ thập cửu (7 x 7 = 49); Lục thất tứ thập nhị (6 x 7 = 42); Ngũ thất tam thập ngũ (5 x 7 = 35); Tứ thất nhị thập bát (4 x 7 = 28); Tam thất nhị thập nhất (3 x 7 = 21); Nhị thất nhất thập tứ (2 x 7 = 14); Nhất thất như thất (1 x 7 = 7); Lục lục tam thập lục (6 x 6 = 36); Ngũ lục tam thập chi (5 x 6 = 30); Tứ lục nhị thập tứ (4 x 6 = 24); Tam lục nhất thập bát (3 x 6 = 18); Nhị lục nhất thập nhị (2 x 6 = 12); Nhất lục như lục (1 x 6 = 6); 9 Ngũ ngũ nhị thập ngũ (5 x 5 = 25); Tứ ngũ nhị thập chi (4 x 5 = 20); Tam ngũ nhất thập ngũ (3 x 5 = 15); Nhị ngũ nhất thập chi (2 x 5 = 10); Nhất ngũ như ngũ (1 x 5 = 5); Tứ tứ nhất thập lục (4 x 4 = 16); Tam tứ nhất thập nhị (3 x 4 = 12); Nhị tứ như bát (2 x 4 = 8); Nhất tứ như tứ (1 x 4 = 4); Tam tam như cửu (3 x 3 = 9); Nhị tam như lục (2 x 3 = 6); Nhất tam như tam (1 x 3 = 3); Nhị nhị như tứ (2 x 2 = 4); Nhất nhị như nhị (1 x 2 = 2) Nhất nhất như nhất (1 x 1 = 1). Nhận xét Bảng cửu chương trong phần lớn các sách toán Hán Nôm hiện tồn, ngoại trừ duy nhất cuốn Toán học tiết yêu (Thư viện Quốc gia Hà Nội), cho đến tận năm 1909, trong cuốn sách in mộc bản Bút toán chỉ nam của Nguyễn Cẩn, là một trong ba cuốn sách toán Hán Nôm được viết hoặc in cuối cùng, và trong cuốn sách của Lương Thế Vinh được chép tay năm 1944, cũng như trong Ý trai toán pháp nhất đắc lục (một điều tâm đắc về toán của Ý Trai) của Ý Trai Nguyễn Hữu Thận, là cuốn sách có giá trị nhất trong di sản sách toán Hán Nôm, đều viết bảng cửu chương bắt đầu từ "Cửu cửu bát thập nhất" (9 × 9 = 81). Trong khi đó Trung Hoa đã học bảng cửu chương theo lối mới "hai lần một là hai." cách đây hàng nghìn năm.
Bảng cửu chương như hiện nay (Hai lần một là hai.) được phổ biến rộng rãi tại Việt Nam có lẽ là do các cố đạo phương Tây.2 Phép bình phân Phép bình phân là dạng toán thường gặp trong thực tế (chia lương, bổng, tiền công, phân phát đồ cho quân lính, chia thuế,. Lương Thế Vinh đã nêu Pháp (phương pháp) giải dạng toán bình phân như sau. Pháp viết: Thượng liệt nhân số, hạ liệt tiền số, dĩ lục thông, tự mạch vị dĩ thượng, cầu tiền tích can, thượng điểm tự nhân (人) vị dĩ thượng, hạ điểm tiền số tự văn vị dĩ thượng, hạ thắng thượng nhất vị, định thủ xích, thượng hạ nhị vị thương lượng, trừ lập tại thủ xích tức chỉ. Cầu mỗi nhân hoạch tiền can, hoặc hữu dư kí chi.
Nhược cầu hoàn nguyên, thượng hạ nhị vị tương nhân, dĩ dư gia nhập vi nhất, cầu tiền tích tái 10 dĩ lục thu chi, cầu nguyên tiền số dã. Cách giải: Phía trên viết số người, phía dưới viết số tiền, lấy 6 để “thông” (để quy đổi), từ mạch trở lên, tìm số tiền, phía trên, điểm từ người trở lên, phía dưới, điểm số tiền từ đơn vị văn trở lên, dưới hơn trên một số, định thủ xích, hai số trên và dưới thương lượng, thực hiện phép chia, đến thủ xích thì dừng lại. Tìm mỗi người nhận được bao nhiêu tiền, có số dư thì ghi lại. Nếu muốn hoàn nguyên, lấy hai số trên dưới nhân với nhau, công thêm số dư, tìm số tiền, lại lấy 6 để “thu”, tìm được số tiền ban đầu.
Giải thích: Đơn vị tiền thời cổ theo thứ tự từ trên xuống là: 1 quán (viên) =10 mạch; 1 mạch = 60 tiền (văn); 1 văn (1 tiền) = 10 phân; 1 phân = 10 li; 1 li = 10 hào; 1 hào = 10 hốt; 1 hốt = 10 mạt. Dưới đây là một loạt bài toán sử dụng phép bình phân trong Toán pháp đại thành.1 (Trang 8b) Bài toán số 1 trong Toán pháp đại thành được phát biểu như sau: Hữu quan tiền cửu thập viên nhị mạch nhị thập tứ văn, phân dữ nhân số tam thập lục nhân, vấn mỗi nhân hoạch tiền can? Dịch: Có số tiền là 90 quán, 2 mạch, 24 văn, chia cho số người là 36 người, hỏi mỗi người nhận được bao nhiêu tiền? Đáp viết: Tiền tích ngũ vạn tứ thiên nhất bách tứ thập tứ văn, mỗi nhân hoạch nhất thiên ngũ bách tứ văn. Dịch: Đáp số: Số tiền là 54144 văn, mỗi người nhận được 1504 văn.) Giải theo ngôn ngữ hiện đại: Đổi đơn vị: 90 quán, 2 mạch, 24 văn=90 × 600 + 2 × 60 + 24 = 54144 văn. Số tiền mỗi người nhận được là: 54144 : 36 = 1504 văn.
Chú thích: Quán, mạch, văn-đơn vị tiền Việt Nam và Trung Hoa thời trung đại: 1 quán =600 văn, 1 mạch=60 văn.2 (Trang 8b) Hữu quan tiền thất thập nhị quán, tứ mạch, tứ thập bát văn, phân dữ nhân số tứ thập bát nhân, mỗi nhân hoạch tiền can? Dịch: Có số tiền là 72 quán, 4 mạch, 48 văn, chia cho số người là 48 người, hỏi mỗi người được bao nhiêu tiền? 11 Đáp viết: Số tiền là 43488 văn, mỗi người nhận được 906 văn. Giải: Đổi đơn vị: 72 quán, 4 mạch, 48 văn=72 × 600 + 4 × 60 + 48 = 43488 văn. Số tiền mỗi người nhận được là: 43488 : 48 =906 văn.3 (Trang 9a) Hữu quan mễ ngũ thập lục hộc, thập thất thăng, phân dữ nhân số bát thập tam nhân, vấn mỗi nhân hoạch can? Dịch: Có số gạo là 56 hộc, 17 thăng, chia cho số người là 83 người, hỏi mỗi người được bao nhiêu? Đáp viết: dĩ nhị lục thông mễ tích nhất thiên tứ bách thất thập tam thăng, mỗi nhân hoạch ngũ thập thăng bát cáp dư lục cáp. Đáp số: lấy 26 thông (đổi đơn vị), số gạo là 1473 thăng, mỗi người nhận được 50 thăng 8 cáp, còn dư 6 cáp.
Giải: Đổi đơn vị: 1 hộc=26 thăng; 56 hộc, 17 thăng=56 × 26 + 17 = 1473 thăng. Mỗi người nhận được là: 1473: 83 = 17 thăng dư 62 thăng. Nhận xét: Đáp số trong sách là: 50 thăng 8 cáp, còn dư 6 cáp.4 (trang 9a) Hữu quan quyên nhị bách tam thập nhị thất, phân dữ nhân số nhất bách ngũ thập thất nhân, vấn mỗi nhân hoạch nhược can? Dịch: Có số lụa là 232 xấp, chia cho 157 người, hỏi mỗi người nhận được bao nhiêu? Đáp viết: Dĩ tam thông quyên phàm lục thiên cửu bách thất thập tam xích, mỗi nhân hoạch tứ thập tứ xích tứ thốn nhất phân tứ ly. (Đáp số: lấy 3 thông, số lụa là 6973 xích, mỗi người nhận được 44 xích, 4 thốn, 1 phân, 4 ly dư 2 ly.) Giải: Đổi đơn vị: 1 xấp = 30 xích, 1 xích=10 thốn, 1 thốn=10 phân, 1 phân=10 ly.
Ta có: 232 xấp = 232 × 30 = 6960 xích. Mỗi người nhận được là: 6960: 157 = 44 xích dư 52 xích=520 thốn :157=3 thốn dư 49 thốn=490 phân:157=3 phân dư 19 phân =190 ly:157=1 ly dư 33 ly (44 xích 3 thốn 12 3 phân 1 ly dư 33 ly). Nhận xét: Đáp số trong sách: 44 xích, 4 thốn, 1 phân, 4 ly dư 2 ly.5 (trang 9a) Hữu quan bố thập tứ thất thập ngũ xích, phân dữ nhân số lục thập bát nhân, vấn mỗi nhân hoạch can? Dịch: Có số vải là 14 xấp 15 xích, chia cho 68 người, hỏi mỗi người nhận được bao nhiêu? Đáp viết: Dĩ tam thông bố phàm tứ bách tam thiên ngũ xích nhị thốn, mỗi nhân hoạch lục xích tứ thốn.