Chương 1, việc người lao động bán sức lao động của mình cho người sử dụng lao động khiến cho “việc làm có trả công” là đặc điểm cơ bản của quan hệ lao động. Đồng thời, theo quy định tại Điều 13 BLLĐ 2019 thì tiền lương cũng là yếu tố cần phải được xác định. Tiền lương này luôn đi kèm với việc làm có trả công. Thứ nhất, về việc làm có trả công của người lao động.
Người lao động làm những công việc dựa trên thỏa thuận của họ với người sử dụng lao động, miễn không phải công việc 11 AFMB Ltd v Raad van bestuur van de Sociale verzekeringsbank (C-610/18) EU: C: 2020: 565; [2020] ICR 1432, para 60-61. 12 Uber BV and others (Appellants) v Aslam and others (Respondents) [2018] EWCA Civ 2748, para 22. 13 Uber BV and others (Appellants) v Aslam and others (Respondents), Tldd, para 45. 18 bị cấm theo quy định pháp luật.14 Người lao động phải được trả công cho những việc mình đã làm theo thỏa thuận.
Thứ hai, về tiền lương, tiền công. Mặc dù không có một quy định rõ ràng nhưng dựa trên việc khoản 1 Điều 13 BLLĐ 2019 có sử dụng cụm từ “trả công” bên cạnh “tiền lương”, có thể cho rằng BLLĐ không quy định một cách cứng nhắc khoản tiền trả cho người lao động phải được gọi bằng “tiền lương” mà có thể sử dụng thuật ngữ khác như “tiền công”, miễn sao khoản tiền được thanh toán có tính chất là tiền lương, tiền công trả cho người lao động trong quan hệ lao động. Tuy nhiên, để xác định liệu rằng một khoản tiền có tính chất này hay không vẫn còn gặp nhiều khó khăn trên thực tế. Có thể nói rằng gần như hầu hết các quy định nhằm định nghĩa người lao động đều gắn khái niệm này với tiền lương, tiền công, điển hình như định nghĩa của ILO và BLLĐ 2019 đã đề cập bên trên.
Thậm chí, Luật công đoàn của Nhật Bản còn đặc biệt nhấn mạnh yếu tố này khi quy định rằng thuật ngữ “người lao động” được sử dụng trong Đạo luật này có nghĩa là những người sống bằng tiền lương, tiền công hoặc thu nhập tương đương khác, bất kể loại nghề nghiệp. Mức lương của người lao động Người lao động có thể được nhận thêm các khoản thưởng với số tiền không cố định theo từng thời điểm (có thể là hoa hồng dựa trên doanh thu của hàng hóa/dịch vụ) nhưng phải được trả một mức lương cơ bản cố định không phụ thuộc vào doanh thu của đơn vị mà họ làm việc.16 Đây cũng là biểu hiện của nguyên tắc người lao động không trực tiếp chịu rủi ro tài chính, đồng thời cũng không hưởng lợi từ việc làm ăn của người sử dụng lao động. Cụ thể, tiền lương cố định của người lao động, hay còn gọi là “lương cứng” không ít đi hay nhiều hơn trong trường hợp việc làm ăn của người sử dụng lao động sinh lợi 14 BLLĐ 2019, Điều 9, khoản 1. 15 Labor Union Act of Japan, Art.org/dyn/natlex/docs/ELECTRONIC/27190/62938/F- 747206767/JPN27190%202005.pdf> truy cập ngày 9/1/2022.
16 Internationtal Labour Organization, Tldd (4), trang 1-2, truy cập ngày 9/1/2022. 19 nhiều hay lỗ vốn. Khoản tiền hoa hồng, hay tiền thưởng, được xem là yếu tố khuyến khích, động viên người lao động thay vì được xem là tiền lương.17 Tiền lương tối thiểu là một trong những quyền lợi chính của người lao động theo pháp luật lao động trên thế giới nói chung và pháp luật lao động tại Việt Nam nói riêng. Theo Điều 91 BLLĐ 2019, mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất người lao động được trả.
Mức lương này được xác lập theo vùng sao cho đảm bảo mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình của họ đặt trong sự đánh giá tương quan với các yếu tố khác như mức lương thị trường, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, mức lương không phải là yếu tố thường được dùng làm căn cứ khi xảy ra tranh chấp về việc có tồn tại quan hệ lao động giữa các bên hay không. Bởi lẽ, tranh chấp liên quan đến việc trả lương cùng các quyền lợi khác của người lao động thường phát sinh khi cá nhân đó đã được xác định là người lao động. Hiển nhiên rằng một cá nhân phải là người lao động mới có căn cứ để kiện đòi tiền lương và các quyền lợi khác dành cho người lao động.
Hay nói cách khác, không thể căn cứ vào khoản tiền một cá nhân được trả thấp hơn mức lương tối thiểu để kết luận cá nhân đó không phải người lao động. Cách thức trả lương Trong khi mức lương không gây nên tranh cãi liên quan đến xác định quan hệ lao động, cách thức trả lương mới là yếu tố thường được các bên trong tranh chấp dựa vào. Theo khoản 1 Điều 94 BLLĐ 2019, về nguyên tắc, người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp cho người lao động. Đây chính là lý do dẫn đến việc trong một số trường hợp, khoản tiền mà cá nhân nhận được đã tạo ra những cuộc tranh luận xem liệu rằng khoản tiền đó có được xem là tiền lương, tiền công được trả cho người lao động hay không.
Chẳng hạn, khi câu hỏi liệu tài xế công nghệ có phải là người lao động hay không trở thành vấn đề gây nên nhiều tranh cãi, có ý kiến cho rằng tài xế xe công nghệ không 17 Văn phòng ILO tại Việt Nam, Tldd(4), trang 33, truy cập ngày 10/1/2022. 20 phải người lao động dựa trên việc công ty cung cấp ứng dụng không phải là bên trực tiếp trả lương cho tài xế. Thay vào đó, doanh nghiệp này hưởng một khoản chiết khấu từ doanh thu của tài xế được chi trả trực tiếp bởi hành khách.18Ngược lại, khi trả lời phỏng vấn báo chí, theo quan điểm của ông Lê Đình Quảng – Phó ban Quan hệ lao động, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam thì giữa tài xế và công ty cung cấp ứng dụng có tồn tại thỏa thuận về việc làm có trả lương dựa trên việc công ty toàn quyền quyết định giá cước xe và mức chiết khấu.19 Bên cạnh đó, Khuyến nghị 198 cho rằng việc xác định khoản tiền được chi trả có phải là tiền lương, tiền công của người lao động hay không là điều đặc biệt quan trọng và điều này có thể dựa trên xem xét việc trả công có được thực hiện một cách định kỳ (theo tháng, theo tuần) hay không.20 Đây cũng là đặc điểm được thể hiện trong pháp luật của các quốc gia gồm Italy và Mỹ.21Tại Hội thảo “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng có yếu tố lao động trong các quan hệ dân sự và thương mại” tổ chức bởi Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12 tháng 01 năm 2022, Tiến sĩ Đoàn Thị Phương Diệp cũng đã trình bày quan điểm rằng việc trả lương một cách định kỳ là dấu hiệu cho thấy quan hệ giữa các bên mang tính ổn định và lặp đi lặp lại – một đặc điểm quan trọng của quan hệ lao động. Sự phụ thuộc của người lao động vào tiền lương Theo Khuyến nghị 198 của ILO, người lao động phải có sự phụ thuộc về kinh tế đối với tiền lương được nhận và khoản tiền này phải là nguồn thu nhập duy nhất của người lao động.22 Tuy nhiên, tác giả cho rằng quan điểm của ILO khá cứng nhắc khi bắt buộc khoản tiền lương này phải là thu nhập duy nhất trong khi người lao động vẫn có thể kiếm 18 Hoài Dương, “Ứng xử công bằng với tài xế xe công nghệ” (2022) < https://nld.vn/kinh-te/ung-xu-cong- bang-voi-tai-xe-xe-cong-nghe- htm> truy cập ngày 11/1/2022.
19 Tuấn Nguyễn, “Tài xế là lao động của Grab”(2020) <https://tienphong.vn/tai-xe-la-lao-dong-cua-grab- post1298411.tpo> truy cập ngày 11/1/2022. 20 Văn phòng ILO tại Việt Nam, Tldd (1), trang 31. 21 Văn phòng ILO tại Việt Nam, Tldd. 22 Văn phòng ILO tại Việt Nam, Tldd, trang 32.
21 thêm thu nhập dựa trên các hoạt động khác song song với công việc tại công ty. Thay vào đó, tác giả đồng ý rằng người lao động có sự phụ thuộc kinh tế vào tiền lương, tiền công và khoản tiền này nên được xem là thu nhập chủ yếu của người lao động. Bên cạnh đó, tại Hội thảo “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng có yếu tố lao động trong các quan hệ dân sự và thương mại” tổ chức bởi Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12 tháng 01 năm 2022, Luật sư Nguyễn Thị Minh Huyền đã dẫn ra một vụ kiện mà sự phụ thuộc kinh tế của người lao động về tiền lương được sử dụng làm căn cứ xét xử. Cụ thể, người lao động khởi kiện yêu cầu doanh nghiệp chi trả cho mình khoản tiền lương chưa được thanh toán dựa trên một hợp đồng lao động được ký kết giữa hai bên.
Trong tranh chấp này, căn cứ khởi kiện là một hợp đồng lao động được xác lập và hợp đồng này quy định rõ rằng mức lương của người lao động là 100 triệu một tháng với vị trí quản lý nhà hàng. Tại phiên xét xử, công ty – phía bị đơn lại có ý kiến cho rằng hợp đồng được ký kết chỉ là hợp đồng lao động giả cách và giữa hai bên không thật sự tồn tại việc thuê mướn. Điều này có nghĩa là nguyên đơn không được thuê mướn theo hợp đồng. Hai bên đã thỏa thuận lập một hợp đồng lao động giả cách để phía nguyên đơn sử dụng nhằm đạt được mục đích riêng khác.
Hội đồng xét xử cuối cùng đã dựa trên căn cứ chính rằng không có sự phụ thuộc về kinh tế của người lao động để kết luận không tồn tại quan hệ lao động giữa các bên. Cụ thể, trên thực tế, bên thuê mướn không thực hiện việc chi trả tiền lương hàng tháng cho bên được thuê mướn. Tình trạng không thanh toán tiền lương này mặc dù đã kéo dài trong vòng một năm nhưng bên được thuê mướn không có bất kỳ hành động phản đối nào. Đây là điều hoàn toàn không hợp lý nếu khoản tiền lương theo hợp đồng thật sự là nguồn thu nhập chủ yếu của cá nhân.
Do đó, phía nguyên đơn không có sự phụ thuộc kinh tế đối với khoản tiền lương từ công ty. Điều này cho thấy giữa các bên không tồn tại quan hệ lao động. Tự mình làm việc “Tự mình làm việc” không được quy định tại Điều 13 BLLĐ 2019 như các dấu hiệu được phân tích bên trên. Tuy vậy, đây là dấu hiệu được thể hiện tại pháp luật các quốc gia trên thế giới, đồng thời cũng được quy định tại BLLĐ 2019, Điều 28 và là quy định bắt buộc mà người lao động phải tuân theo.Tự mình làm việc có nghĩa là người lao động phải tự mình thực hiện các công việc được thỏa thuận theo hợp đồng lao động thay vì chuyển giao cho người khác làm thay.