Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG VÀ ĐÌNH CÔNG - SỰ THAM GIA CỦA CÔNG ĐOÀN 1. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP LAO ĐỘNG VÀ SỰ THAM GIA CỦA CÔNG ĐOÀN 1. Tranh chấp lao động và giải quyết tranh chấp lao động 1. Khái niệm tranh chấp lao động a.
Định nghĩa tranh chấp lao động Quan hệ lao động là quan hệ giữa con người với con người được hình thành trong quá trình lao động. Thực chất quan hệ lao động là quan hệ hợp tác cùng có lợi trên cơ sở sự hiểu biết, quan tâm lẫn nhau nhằm đạt mục đích mà mỗi bên đặt ra. Trong quan hệ lao động, nếu mục đích của người lao động là những khoản tiền lương hoặc thu nhập tối đa, được làm việc trong điều kiện lao động tốt nhất có thể thì người sử dụng lao động lại mong muốn sử dụng những lao động có chất lượng cao nhưng với chi phí về tiền lương, bảo hiểm, về điều kiện môi trường lao động thấp nhất đến mức có thể. Hơn nữa, quan hệ lao động thường là quan hệ tương đối lâu dài nên trong quá trình duy trì quan hệ không thể tránh khỏi việc xuất hiện những bất đồng, mâu thuẫn giữa các bên.
Sự bất đồng hay xung đột giữa các bên phải được thể hiện ra bên ngoài và phải có nhu cầu cần giải quyết. “Nếu sự bất đồng hay xung đột đó chỉ âm ỉ, được các bên che giấu hoặc chỉ được bộc lộ theo kiểu “giãi bày” nhằm tranh thủ sự thông cảm hoặc theo kiểu “trút gánh nặng” ngày thường hoặc tương tự như vậy thì coi như chưa có tranh chấp lao động xảy ra” [37 - tr 37]. Trên thực tế không phải tất cả mọi bất đồng giữa các bên chủ thể của quan hệ lao động đều được coi là tranh chấp lao động. Chẳng hạn, những bất đồng mà các chủ thể tự giải quyết được như: đại diện tập thể lao động và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người sử dụng lao động không thống nhất được với nhau về tiền lương tối thiểu trong doanh nghiệp nhưng sau đó họ lại bàn bạc, thương lượng được với nhau và đi đến thoả thuận chung.
Trong trường hợp này bất đồng giữa họ không phải là tranh chấp lao động mà chỉ là sự không thống nhất ý kiến của các bên về một vấn đề, nó chỉ có tính nhất thời và đã được giải quyết [30 - tr. Trong trường hợp các bên đã bàn bạc, thương lượng nhưng không đi đến thoả thuận chung hoặc một trong hai bên từ chối thương lượng mà phải nhờ đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp thì những mâu thuẫn, bất đồng đó trở thành tranh chấp lao động. Tranh chấp lao động là hiện tượng kinh tế xã hội tất yếu trong đời sống lao động của bất kỳ một quốc gia nào mà hầu hết các quốc gia đều quan tâm đến vấn đề giải quyết tranh chấp lao động. Theo quy định tại Điều 157 Khoản 1 Bộ luật lao động 2006, tranh chấp lao động được định nghĩa như sau: “Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động”.
Có thể nói, khái niệm này ngắn gọn nhưng nó đã khái quát được tất cả những tranh chấp phát sinh từ quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử dụng lao động. Tranh chấp về tiền lương, tiền thưởng, về hợp đồng lao động giữa người lao động với người sử dụng lao động đều là tranh chấp lao động. Phân loại tranh chấp lao động Việc phân loại tranh chấp lao động có ý nghĩa quan trọng, nó sẽ giúp chúng ta xác định chính xác từng loại tranh chấp để từ đó áp dụng cơ chế giải quyết cho phù hợp và hiệu quả. Có nhiều tiêu chí để phân loại tranh chấp lao động.
* Căn cứ vào quy mô của tranh chấp có thể phân thành tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp giữa người sử dụng lao động với người lao động liên quan đến quyền, lợi ích của người lao động. Thông thường tranh chấp lao động cá nhân phát sinh trong quá trình thực hiện, thay đổi, chấm dứt hợp đồng lao động hoặc trong việc thực hiện chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội… Trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Công đoàn không tham gia với tư cách là đại diện của một bên tranh chấp mà chỉ tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động hoặc là người đại diện theo ủy quyền của người lao động. Việc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là nhằm khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp của hai bên chủ thể trong quan hệ lao động.
- Tranh chấp lao động tập thể là tranh chấp giữa tập thể người lao động với người sử dụng lao động về quyền và lợi ích liên quan đến tập thể lao động. Khái niệm tập thể lao động rất phong phú có thể được được hiểu là toàn bộ hoặc một số người lao động cùng làm việc trong một bộ phận của doanh nghiệp, trong toàn doanh nghiệp hay trong một ngành kinh tế. “Tập thể lao động là những người lao động cùng làm việc trong một doanh nghiệp hoặc một bộ phận của doanh nghiệp” (Điều 157 Khoản 4 Bộ luật lao động 2006). Như vậy, pháp luật lao động nước ta chỉ thừa nhận những tranh chấp lao động tập thể trong phạm vi tối đa một doanh nghiệp, do đó những cuộc đình công trong phạm vi một doanh nghiệp mới được coi là hợp pháp.
Có thể nói, quy định này chưa hợp lý vì với điều kiện nền kinh tế xã hội ngày càng phát triển, quan hệ lao động cũng sôi động, đa dạng hơn càng hàm chứa nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện các tranh chấp lao động tập thể và đình công. Đình công có thể không chỉ dừng lại trong phạm vi một doanh nghiệp mà có thể lan rộng ra cả một vùng hay cả một ngành kinh tế. Chủ thể của tranh chấp lao động tập thể là người sử dụng lao động và tập thể lao động mà đại diện là Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Khác với 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tranh chấp lao động cá nhân, trong tranh chấp lao động tập thể tổ chức công đoàn là một bên của tranh chấp, trực tiếp đại diện cho quyền lợi của tập thể lao động, yêu cầu người sử dụng lao động phải giải quyết kịp thời những bức xúc, những đòi hỏi của người lao động.
Vì vậy, so với tranh chấp lao động cá nhân thì tranh chấp lao động tập thể thường diễn ra phức tạp hơn, có tính tổ chức và quy mô hơn nên cũng cần có cơ chế giải quyết thích hợp. Nội dung của tranh chấp lao động tập thể thường liên quan đến quyền, lợi ích chung của một tập thể người lao động như của một phân xưởng, một phòng ban hay của cả doanh nghiệp. Do vậy, tranh chấp lao động tập thể thường phát sinh liên quan đến việc thực hiện các điều khoản trước đó đã được thỏa thuận trong thỏa ước lao động tập thể như về tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi,… hoặc liên quan đến việc thiết lập các quyền và nghĩa vụ mới mà trước đó các bên chưa thỏa thuận và pháp luật chưa quy định cụ thể. Việc phân biệt tranh chấp lao động thành tranh chấp lao động cá nhân và tranh chấp lao động tập thể có ý nghĩa trong việc áp dụng cơ chế thích hợp để giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng, hiệu quả đồng thời trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động cá nhân và tập thể thì công đoàn cũng tham gia với những tư cách khác nhau.
* Căn cứ vào tính chất của tranh chấp có thể chia tranh chấp lao động thành các tranh chấp lao động về quyền và tranh chấp lao động về lợi ích. - Tranh chấp lao động về quyền là những tranh chấp phát sinh trong việc thực hiện các quy định của pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động hoặc các quy chế, thỏa thuận khác giữa người lao động và người sử dụng lao động. Nguyên nhân của các tranh chấp này thường là sự cố ý vi phạm hoặc do các bên có hiểu biết sai lệch về nội dung của hợp đồng, thỏa ước hay pháp luật mà dẫn đến sự vi phạm. Trong điều kiện nền kinh tế 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thị trường cạnh tranh gay gắt hiện nay, các doanh nghiệp thường tìm mọi cách để tối đa hóa lợi nhuận, để có được lợi nhuận cao họ thường bóc lột sức lao động của công nhân bằng các hành vi vi phạm pháp luật, thỏa ước lao động, hợp đồng lao động như không đóng bảo hiểm cho người lao động, buộc công nhân làm thêm giờ, trả lương thấp… Chính vì vậy, tranh chấp về quyền là loại tranh chấp phổ biến thường xuất hiện do nguyên nhân từ sự vi phạm của người sử dụng lao động.
- Tranh chấp về lợi ích là những tranh chấp về quyền lợi chưa được pháp luật quy định hoặc chưa được các bên ghi nhận trong thỏa ước lao động tập thể hoặc đã được pháp luật quy định, thỏa ước ghi nhận nhưng hiện không còn phù hợp vào thời điểm tranh chấp. Như vậy, nếu nguyên nhân dẫn đến tranh chấp lao động về quyền là do người sử dụng vi phạm pháp luật lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy lao động… có lỗi thì nguyên nhân dẫn đến tranh chấp lao động về lợi ích không phải do người sử dụng lao động vi phạm pháp luật lao động, người sử dụng lao động không có lỗi mà xuất phát từ nhận thức của người lao động cho rằng những gì mình được nhận chưa xứng đáng với công sức họ đã bỏ ra. Có thể nói, việc phân loại tranh chấp lao động có ý nghĩa rất quan trọng. Bởi trên cơ sở phân loại tranh chấp, căn cứ vào số lượng chủ thể tham gia và nội dung tranh chấp để có cơ chế giải quyết thích hợp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hai bên tranh chấp.
Giải quyết tranh chấp lao động a. Nguyên tắc giải quyết tranh chấp lao động - Nguyên tắc thứ nhất, thương lượng trực tiếp, tự dàn xếp và tự quyết định của hai bên tranh chấp tại nơi phát sinh tranh chấp. Có thể nói, đây là nguyên tắc đặc thù và rất quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp lao động.