mở đầu một giai đoạn phát triển mới của ngành thanh tra. Giai đoạn này Thanh tra Bộ tách thành hai đơn vị độc lập là Thanh tra chính sách lao động - xã hội và Thanh tra kỹ thuật an toàn và bảo hộ lao động. Đến năm 2003, khi Nghị định số 29/CP, ngày 31/3/2003 được ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tô chức bộ máy Bộ LDTB&XH thì Thanh tra Bộ mới trở thành một tô chức thanh tra duy nhất gọi là Thanh tra Bộ LDTB&XH với chức năng quy định tại Quyết định số 1118/2003/QD-BLDTBXH, ngày 10/9/2003 của Bộ trưởng Bộ LDTB& XH về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tô chức của Thanh tra Bộ. Thi hai, Thanh tra lao động từ năm 2004 đến 2010 Luật Thanh tra 2004 được ban hành nhằm đổi mới tô chức và hoạt động thanh tra, là công cụ pháp lý để kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan thanh tra, góp phần đảm bảo thực thi pháp luật trên các lĩnh vực quản lý nhà nước, đặc biệt là công cuộc phòng chống tham nhũng.
Các quy định cơ bản về mục đích, nguyên tắc, hình thức, phương thức, trình tự, thủ tục, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thanh tra, Thanh tra viên, cộng tác viên. được ghi nhận, là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động thanh tra. Trên cơ sở Luật Thanh tra 2004, Nghị định số 31/2006/NĐ-CP, ngày 29/3/2006 của Chính phủ quy định về tổ chức hoạt động của Thanh tra LDTB& XH được coi là Nghị định thanh tra chuyên ngành; Quyết định số 148/2008/QD-LDTBXH, ngày 22/01/2008 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ; Quyết định số 599/QD-BLDTBXH, ngày 29/4/2008 của Bộ trưởng về việc bổ nhiệm Chánh Thanh tra Bộ, Quyết định số 02/2006/QD, ngày 16/02/2006 ban hành quy chế hoạt động Thanh tra Nhà nước về lao động theo phương thức Thanh tra viên phụ trách vùng. 14 Thứ ba, Thanh tra lao động từ năm 2010 đến nay Luật thanh tra 2004 đã góp một phan rất quan trong trong công tác quản lý nhà nước, song trong quá trình thực hiện còn một số nhược điểm như chưa luật hóa chức năng đấu tranh phòng chống tham nhũng, tô chức bộ máy chưa khoa học, còn chồng chéo; mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong hoạt động thanh tra chưa được quy định rõ.
Để đáp ứng tốt nhiệm vụ thanh tra trong thời kỳ mới, ngày 15/11/2010 tai kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật Thanh tra 2010 trong đó quy định: về thanh tra viên, cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành; người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành; hai khái niệm cơ bản là "thanh tra hành chính" và "thanh tra chuyên ngành” cũng được sửa đổi, b6 sung nhằm phân biệt rõ hai loại hoạt động này. Hoạt động thanh tra chuyên ngành có những đặc điểm đó là do các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực tiễn hành, cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành; đối tượng thanh tra chuyên ngành là mọi cơ quan, tô chức, cá nhân chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành; nội dung của thanh tra chuyên ngành la xe m xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn, kỹ thuật, qui tắc quản lý của ngành. Khi xem xét, các cơ quan tiễn hành có quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm. Trên co sở Luật Thanh tra 2010, Nghị định 86/2011/NĐ-CP, ngày 22/9/2011 quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra; Nghị định số 106/2012/NĐ-CP, ngày 20/12/2012 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tô chức của Bộ LĐTB&XH; Nghị định số 39/2013/NĐ-CP, ngày 24/4/2013 của Chính phủ quy định về tổ chức hoạt động của Thanh tra ngành LĐTB&XH được ban hành.
Thanh tra lao động là một loại của thanh tra ngành LDTB& XH, thanh tra chuyên sâu vào lĩnh vực lao động, bao gồm thanh tra về lao động, việc làm, tiền lương, BHXH, ATVSLĐ. Do đó, Thanh tra lao động hoạt động không nằm ngoài mục đích thanh tra của Thanh tra LDTB& XH, không vượt quá chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra LĐTB&XH và hoạt động nhăm phát huy vai trò của thanh tra nói chung và Thanh tra lao động nói riêng. Nội dung cơ bản của Thanh tra pháp luật lao động 1. Quyền và nghĩa vụ của của chủ thể trong Thanh tra lao động Thanh tra lao động là thanh tra chuyên ngành LĐTB&XH; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về lao động; điều tra tai TNLĐ và những vi phạm ATVSLD; hướng dẫn áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về điều kiện, ATVSLĐ; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về lao động theo quy định của pháp luật.
Đề thực hiện quản lý nhà nước về lao động, bảo vệ kip thời quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể tham gia quan hệ lao động, BLLĐ 1994 dành chương XVI với 07 điều quy định Thanh tra Nhà nước về lao động, xử phạt vi phạm pháp luật lao động. Một SỐ quy định về Thanh tra lao động được sửa đôi, bố sung trong Luật sửa đổi, bố sung một số điều của BLLD 2002, bao gồm: quy định chức năng của Thanh tra Nhà nước về lao động (Điều 186), nhiệm vụ chủ yếu của Thanh tra Nhà nước về lao động (Điều 187), quyền của Thanh tra viên (Điều 187), những việc Thanh tra viên không được làm (Điều 188), cơ chế phối hợp thanh tra. Bộ luật Lao động 2012 cũng dành chương XVI quy định về nhiệm vụ thanh tra Nhà nước về lao động (Điều 237); Xử lý vi phạm trong lĩnh vực lao động (Điều 239). - Quyền của Thanh tra viên lao động đã được quy định trong Điều 187 BLLĐ 1994; cu thé, khi tiến hành thanh tra, Thanh tra viên lao động có quyền: Thanh tra, điều tra những nơi thuộc đối tượng, phạm vi thanh tra được giao bat cứ lúc nào mà không cần báo trước; yêu cầu NSDLĐ và những người có liên quan cung cấp tình hình và các tài liệu liên quan đến việc thanh tra, điều tra; tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại, tổ cáo về vi phạm pháp luật lao động; quyết định tạm đình chỉ việc sử dụng máy, thiết bị, nơi làm việc có nguy cơ gây TNLD, gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường lao động và chịu trách nhiệm về quyết định đó.
- Quy định về trách nhiệm, cơ chế phối hợp, hiệu lực của quyết định thanh tra (Điều 188, 189, 190 BLLĐ đã được sửa đổi, bổ sung năm 2007): + Điều 188 quy định về trách nhiệm của Thanh tra lao động: Thanh tra viên lao động phải là người không có lợi ích cá nhân liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp 16 với đối tượng thuộc phạm vi thanh tra. Thanh tra viên kế cả khi thôi việc, không được tiết lộ những bí mật biết được trong khi thi hành công vu và phải tuyệt đối giữ kín mọi nguồn tố cáo. + Điều 189 quy định về cơ chế phối hợp của Thanh tra viên: Khi tiến hành thanh tra, Thanh tra viên lao động phải cộng tác chặt chẽ với Ban chấp hành công đoàn. Nếu vụ việc có liên quan đến các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, chuyên môn, nghiệp vu, Thanh tra viên lao động có thé mời các chuyên gia, các kỹ thuật viên lành nghề về lĩnh vực hữu quan làm tư vấn; khi khám xét máy, thiết bị, kho tàng, phải có mặt NSDLD và người trực tiếp phụ trách máy, thiết bị, kho tàng.
+ Điều 190 quy định về hiệu lực của quyết định thanh tra: Thanh tra viên lao động trực tiếp giao quyết định cho đương sự, trong quyết định phải ghi rõ ngày quyết định bắt đầu có hiệu lực, ngày phải thi hành xong, nếu cần thiết ghi cả ngày phúc tra. Quyết định của Thanh tra viên lao động có hiệu lực bắt buộc thi hành. Người nhận quyết định có quyền khiếu nại với co quan nhà nước có thâm quyên, nhưng vẫn phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định của Thanh tra viên lao động. Tóm lại, pháp luật lao động đã trao cho Thanh tra viên lao động những quyền năng rất lớn trong hoạt động thanh tra nhăm thực thi pháp luật lao động có hiệu quả.
Nghị định 39/2013/NĐ-CP của Chính phủ về tô chức và hoạt động của thanh tra ngành LĐTB&XH là sự cụ thể hóa quy định của pháp luật về Thanh tra lao động, trong đó quy định tô chức và hoạt động của các cơ quan thực hiện chức năng Thanh tra lao động; Thanh tra viên, công chức thanh tra, cộng tác viên Thanh tra lao động; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động Thanh tra lao động. - Tổ chức của Thanh tra lao động gồm các cơ quan: Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở LĐTB&XH các tỉnh, thành phố; các cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành là Tổng cục Dạy nghề, Cục Quản lý Lao động ngoài nước. Thanh tra Bộ là cơ quan thuộc Bộ, giúp Bộ trưởng Bộ LDTB& XH quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tổ cáo và phòng, chống tham 17 nhũng thuộc lĩnh vực lao động và một số lĩnh vực khác trong phạm vi cả nước thuộc chức năng nhiệm vụ của ngành. Thanh tra Sở là cơ quan thuộc Sở, giúp Giám đốc Sở LĐTB&XH quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, t6 cáo và phòng, chống tham nhũng thuộc lĩnh vực lao động và một số lĩnh vực khác trong phạm vi tỉnh, thành phố thuộc chức năng nhiệm vụ của ngành.
Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở có Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra, Thanh tra viên và các công chức khác. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở được quy định tại Điều 18 Luật Thanh tra 2010 và các điều trong BLLĐ 2012. Nghị định 39/2013/NĐ-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở, Cục Dạy nghé, Cục Quan lý lao động ngoài nước và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các Chánh thanh tra, Tổng cục trưởng (tại các điều từ § đến 16). - Quy định về Thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành, cộng tác viên thanh tra: Vé cơ bản, các quy định trong Nghị định này tuân thủ quy định của Luật thanh tra, tuy vậy cũng có những quy định mang tính chất đặc thù của ngành (từ Điều 16 đến 19).