đặt vấn đề giải thích theo hướng gắn liền với chức năng xét xử rằng: “nếu một người đàn ông đeo nhẫn trên tay và tấn công người khác bằng tay đó, anh ta có phải chịu trách nhiệm về hành vi gây thương tích cho người khác bằng công cụ kim loại”.28 Tương tự, các tác giả Yasutomo Morigiwa, Michel Stolleis và Jean – Louis Halparin đã viện dẫn trong quyển sách của mình quan điểm của luật sư Jean Domas, Luật sư của Hoàng gia Pháp vào thế kỉ XVIII rằng giải thích luật bao gồm 2 công đoạn: thứ nhất là xác 23 Aharon Barak (2005), sđd số 22, tr. 24 Aharon Barak (2005), sđd số 22, tr. 25 Wroblewski (1992), The Judicial Application of the Court of Law, NXB Kluwer Academic, Dordrecht, tr. 26 Michelle Sanson, David Worswick và Thalia Anthony (2009), sđd số 6, tr.
Nguyên văn là “statuory interpretation covers all types of legislation, both primary legislation (Acts, statutes) and delegated legislation (regulations, rules, ordinances and by - laws) 27 Kath Hall và Claire Macken (2009), Legislation and Statutory Interpretation, NXB LexisNexis, tr. 28 Gerard Carney (2015), sđd số 14, tr. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 10 định nghĩa ẩn đằng sau câu từ của quy định và tiếp theo đó là xác định phạm vi áp dụng của quy định để biết trường hợp nào nhà làm luật mong muốn điều chỉnh.29 Trong bài viết tạp chí dài hơn một trăm trang, William N. Eskridge đã cho thấy cách hiểu ban đầu về quyền tư pháp của các nhà sáng lập Hiến pháp Mỹ, Hiến pháp đầu tiên trên thế giới rằng quyền giải thích luật hiển nhiên thuộc về tòa án vì đó chính là nội dung của quyền tư pháp.
“Quyền tư pháp là quyền giải thích và áp dụng pháp luật khi có tranh luận phát sinh về cái gì được làm hoặc không được làm theo pháp luật.”30 Trong quá trình lịch sử thiết lập nên bản Hiến pháp Mỹ, theo kế hoạch Virginia thì cần một Hội đồng bao gồm người đứng đầu nhánh hành pháp và một số lượng hợp lý thẩm phán để bác bỏ các dự luật được thông qua bởi nhánh lập pháp. Dựa trên đặc thù của quyền tư pháp, rất nhiều ý kiến phản đối dự định trên. Cụ thể, Elbridge Gerry cho rằng việc kiểm tra trước của các thẩm phán là không cần thiết bởi vì tòa án hoàn toàn có đủ điều kiện để kiểm soát sự lạm quyền của nhánh lập pháp thông qua quyền giải thích và quyền kiểm tra tính hợp hiến đối với luật. Rufus King cũng cho rằng vì thẩm phán có quyền giải thích luật khi luật được trình bày trước họ, nên họ cần thoát khỏi sự thiên vị do có liên quan đến quá trình ban hành.
John Dickinson còn lý giải nhánh hành pháp được quyền phủ quyết dự luật trong khi tòa án thì không vì thẩm phán phải giải thích luật. Cuối cùng, tỷ lệ 8 so với 2 bang để chấp nhận quan điểm của Elbridge Gerry rằng phủ quyết chỉ nên thực hiện bởi hành pháp và phủ quyết có thể bị bỏ qua bởi 2/3 đại biểu lập pháp.31 Đến thời kỳ hiện đại ngày nay, khi bàn về khái niệm giải thích luật, các học giả Canada như André Côté và Sullivan đều cho rằng giải thích luật luôn gắn liền với công việc của tòa án. Gặp nhau ở quan điểm rằng khó có thể kết luận một quy định là rõ ràng hay mơ hồ cho đến khi có vụ việc xảy ra cần đối chiếu với quy định đó để giải quyết, tác giả hai quyển sách “Interpretation of Legislation in Canada”, (Giải thích luật ở Canada) và “Statutory Interpretation” (Giải thích luật thành văn) đều cho rằng giải thích luật không dừng lại ở việc tìm nghĩa cho quy định trong các văn bản luật mà phải bao gồm việc xác định phạm vi áp dụng của quy định đó trong một vụ việc cụ thể.32 Từ các công trình nghiên cứu trên cho thấy từ trước công nguyên đến thời kỳ hiện đại ngày nay, có sự nhất trí rằng giải thích luật nói riêng và GTVBQPPL nói chung là công việc do tòa án thực hiện khi có vụ việc thực tế xảy ra mà tòa án cần giải quyết. 29 Jean Domat, Les Lois civiles dans leur ordre naturel, Vol.
II, Héricourt, Paris, chez Nyon, 1777, tr.4 -10 được trích bởi Yasutomo Morigiwa, Michel Stolleis và Jean – Louis Halparin (2001), sđd số 13, tr. Garner (chủ biên) (2004), Black's Law Dictionary, NXB Thomson/West, tr. Eskridge (2001), “All about Words: Early Understanding of the Judicial Power in Statutory Interpretation, 1776-1806”, Columbia Law Review, Volume 101, tr. 32 Pierre – André Côté, Stéphane Beaulac và Mathieu Devinat (2001), Interpretation of Legislation in Canada, NXB Carswell, Canada, tr.
2 và Ruth Sullivan (2007), Statutory Interpretation, NXB Irwin Law Inc, Canada, tr. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 11 1. Về căn cứ tòa án sử dụng để giải thích văn bản quy phạm pháp luật Sách“Interpreting Statutes – A Comparative Study” (Giải thích luật thành văn – Một nghiên cứu so sánh)33 là công trình nghiên cứu đồ sộ về giải thích luật theo vụ việc của tòa án (operative interpretation) được thực hiện trong thời gian bảy năm. Sách giới thiệu và phân tích hoạt động giải thích luật của cơ quan tư pháp như là một ví dụ điển hình về giải thích ngôn ngữ viết và cũng bao gồm giải thích các văn bản do nhánh hành pháp ban hành.34 Quyển sách phân tích và đánh giá động GTVBQPPL ở chín quốc gia trong đó có Đức, Pháp, Ý đại diện cho truyền thống Dân luật, Anh và Mỹ đại diện cho truyền thống Thông luật.
Vì đây là công trình nghiên cứu được tiếp cận dưới góc độ so sánh nên ngoài việc trình bày hoạt động giải thích luật diễn ra ở từng quốc gia, sách còn chỉ ra điểm giống và khác biệt trong hoạt động này giữa các quốc gia được nghiên cứu. Từ công trình này cho thấy không có sự khác biệt lớn trong việc sử dụng các căn cứ giải thích bởi tòa án các nước Thông luật và Dân luật. Có thể chia các căn cứ giải thích được trình bày trong sách này thành hai loại: Căn cứ là các tài liệu, nội dung có giá trị pháp lý bao gồm chính câu từ của quy định, toàn bộ VBQPPL được giải thích, VBQPPL có liên quan, nguyên tắc chung của luật và án lệ… Căn cứ là các tài liệu, nội dung không có giá trị pháp lý bao gồm từ điển, các tài liệu lịch sử lập pháp, tài liệu về hoàn cảnh lịch sử khi ban hành luật, các yếu tố kinh tế, văn hóa, tôn giáo, đạo đức và bản chất của sự vật, hiện tượng được điều chỉnh…35 Tác phẩm được đánh giá cao của giáo sư người Đức Stefan Vogenauer “Interpretation of Statutes in England and on the Continent - A Comparative Study of Judicial Jurisprudence and Historical Foundations” (Giải thích luật ở Anh và Lục địa, một nghiên cứu so sánh về thẩm quyền tư pháp và các phát hiện mang tính lịch sử) phản ánh khá trung thực về cách tiếp cận của tòa án Anh, Pháp và Đức trong hoạt động giải thích luật của nghị viện. Vogenauer kết luận rằng sự khác biệt trong cách tiếp cận giữa hai hệ thống Thông luật và Dân luật không quá nhiều.
Liên quan đến các căn cứ giải thích luật, ông kết luận ba quốc gia được nghiên cứu đều sử dụng năm căn cứ giải thích sau: (1) ngôn ngữ, (2) lịch sử hay nguồn gốc của quy định (genetis), (3) ngữ cảnh trong văn bản và trong cả hệ thống pháp luật, (4) mục đích của văn bản và (5) các giá trị khác với pháp luật. Ngoài sự trình bày các yếu tố làm căn cứ giải thích, tác giả còn thảo luận về tầm quan trọng của các yếu tố và phân tích mối quan hệ giữa chúng. Neil MacCormick và Robert S. Summers (1991), Interpreting Statutes - A Comparative Study, NXB Routledge.
Neil MacCormick và Robert S. Summers (1991), sđd số 33, tr. Summers và Michele Taruffo (1991) “Interpretation and Comparative Analysis” trong D. Neil MacCormick và Robert S.
Summers, Interpreting Statutes – A Comparative Study, NXB Routledge, tr. 36 Horst Klaus Lücke (2005), “Statutory Interpretation: New Comparative Dimensions; the Review of Interpretation of Statutes in England and on the Continent; A Comparative Study of Judicial Jurisprudence and its Historical Foundations”, The International and Comparative Law Quarterly, Vol. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 12 Sách “The Interpretation and the Use of Legal Sources, the laws of Australia” (Giải thích và sử dụng các nguồn của pháp luật, các luật của Úc) đã đem đến cái nhìn từ khái quát đến chi tiết về GTVBQPPL ở Úc bao gồm giải thích Hiến pháp (Constitution), luật (statutes) và các văn bản mang tính chất ủy quyền làm luật (subordinate legislation) như các văn bản quy định chi tiết, các quy tắc cụ thể hóa các thủ tục pháp lý, các văn bản của Hội đồng địa phương, (regulations, rules, by-laws and proclamations)… Trong quá trình giải thích các văn bản theo ủy quyền, thẩm phán Úc vẫn áp dụng các nguyên tắc chung so với giải thích luật của Nghị viện, có xem xét đến văn bản luật gốc ủy quyền và ngữ cảnh của sự ủy quyền.37 Ngoài ra, sách này còn giới thiệu hoạt động giải thích điều ước quốc tế, hợp đồng, di chúc và các phán quyết tư pháp ở nước này. Bên cạnh đó, bài viết tạp chí của Kirby Michael, “Statutory Interpretation: The Meaning of Meaning” (Giải thích luật: ý nghĩa của nghĩa) cho thấy xu hướng chung của giải thích luật ở Úc là dựa trên câu chữ của quy định, kết hợp với ngữ cảnh và mục đích của luật thành văn.
Bài viết cho thấy khi giải thích, thẩm phán Úc cũng quan tâm đến chính sách, các giá trị xã hội và sự phù hợp của kết quả giải thích với thực tiễn.38 Ngoài ra, nhiều tác giả tập trung phân tích việc sử dụng lịch sử lập pháp như một căn cứ để giải thích luật. Qua cách tiếp cận so sánh về việc sử dụng lịch sử lập pháp Holger Fleischer cho thấy mặc dù có sự khác biệt nhất định trong sử dụng tài liệu lịch sử lập pháp ở Đức, Anh và Mỹ nhưng xu hướng chung là lịch sử lập pháp không có giá trị ràng buộc và giảm dần giá trị hướng dẫn theo thời gian. Ở Đức, Anh và Mỹ, qua từng thời kỳ đều có sự ủng hộ và phản đối việc sử dụng lịch sử lập pháp. Ý kiến ủng hộ cho rằng lịch sử lập pháp hỗ trợ tìm nghĩa của quy định khi câu chữ mơ hồ, góp phần hạn chế sự tùy tiện của người giải thích.
Ý kiến phản đối cho rằng lịch sử lập pháp không được thông qua, không có hiệu lực, thường lộn xộn, mâu thuẫn và không dễ tiếp cận, vì vậy sử dụng chúng sẽ ảnh hưởng đến tính dân chủ cũng như chúng dễ bị lạm dụng để phục vụ mục đích của người giải thích.