Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM Y TẾ 1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm y tế 1. Khái niệm và vai trò của bảo hiểm y tế 1. Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm y tế (i) Khái niệm bảo hiểm y tế Khái niệm BHYT được ghi nhận tại Công ước 102 ngày 28/6/1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
Theo đó, BHYT được hiểu là “ một nội dung thuộc an sinh xã hội và là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế cho người tham gia khi gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật” [49]. Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì BHYT được hiểu là “loại hình bảo hiểm không kinh doanh, không vì mục đích lợi nhuận và được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ quyền con người”. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam I, BHYT được định nghĩa “là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân"[51]. Luật BHYT năm 2008 đưa ra định nghĩa: “BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực CSSK, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này” [43].
Theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT số 46/2014/QH13 ngày13/6/2014 do Quốc hội ban hành thì BHYT được định nghĩa như sau: “BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để CSSK, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện” [45]. 7 Từ những khái niệm trên, có thể thấy khái niệm BHYT theo pháp luật hiện hành ở nước ta tương đồng với khái niệm về BHYT của ILO và WHO. Điểm tương đồng này thể hiện BHYT là nội dung thuộc an sinh xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện với mục đích là CSSK cho nhân dân mà không vì mục đích lợi nhuận nhằm đảm bảo chi phí y tế cho người tham gia khi gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật. Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm BHYT như sau: BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc, do nhà nước tổ chức thực hiện nhằm đảm CSSK cho mọi người dân trong xã hội, không vì mục đích lợi nhuận.
(ii) Đặc điểm của bảo hiểm y tế Từ khái niệm BHYT nêu trên có thể thấy BHYT có những đặc điểm sau: Thứ nhất, đối tượng tham gia chế độ BHYT rất rộng. So với đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì đối tượng tham gia BHYT rất rộng. Đặc điểm này thể hiện ở phạm vi chủ thể tham gia BHYT không phân biệt giới tính, tuổi tác, khu vực làm việc, hình thức quan hệ lao động. Đối tượng tham gia BHYT là tất cả các thành viên trong xã hội.
Đây là một trong những đặc điểm nổi bật nhất để phân biệt BHYT với các loại hình bảo hiểm khác. Theo quy định của Luật BHXH năm 2014, đối tượng tham gia chế độ BHXH bao gồm người lao động và người sử dụng lao động. Người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động (viết tắt là HĐLĐ). Người lao động là công dân Việt Nam làm việc theo HĐLĐ từ đủ 01 tháng trở lên; người lao động nước ngoài làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn từ đủ 01 năm trở lên; cán bộ, công chức, viên chức; công nhân quốc phòng, công an nhân dân, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người 8 làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí; Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương; Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.
Thứ hai, BHYT có nhiệm vụ chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho người dân khi bị ốm đau, bệnh tật phải KCB thông qua việc chi trả chi phí dịch vụ y tế. Nếu như khi tham gia chế độ BHXH, người lao động sẽ được hưởng các chế độ từ cơ quan BHXH bằng tiền thì BHYT hỗ trợ cho người dân bằng các dịch vụ KCB thông qua việc chi trả chi phí như thuốc, vật tư y tế và giường bệnh trong quá trình điều trị. Thứ ba, mức hưởng BHYT phụ thuộc vào tình trạng bệnh tật và cơ sở KCB BHYT Đây là đặc điểm đặc trưng thể hiện sự khác biệt của BHYT so với các loại hình bảo hiểm khác, thể hiện tính cộng đồng tương trợ, chia sẻ lẫn nhau của BHYT. Nếu như khi tham gia BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, người lao động được hưởng các chế độ BHXH, bảo hiểm thất nghiệp phụ thuộc vào thời gian tham gia, mức đóng BHXH, bảo hiểm thất nghiệp…thì khi tham gia BHYT, người ốm đau được hưởng BHYT phụ thuộc vào tình trạng bệnh tật và cơ sở KCB BHYT.
Thứ tư, việc tổ chức thực hiện BHYT có sự tham gia của ba bên: Bên tham gia BHYT, bên thực hiện BHYT và cơ sở KCB. Nếu như các loại hình bảo hiểm khác chỉ gồm có bên tham gia bảo hiểm và bên thực hiện bảo hiểm thì việc tổ chức thực hiện BHYT lại gồm có sự tham gia của ba bên đó là: Bên tham gia BHYT, bên thực hiện BHYT và cơ sở KCB. Theo đó, người tham gia BHYT có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm để được thanh toán chi phí KCB. Cơ quan BHXH thực hiện thu phí, xác định phạm vi hưởng của người tham gia và thanh toán một phần hoặc toàn bộ chi phí KCB của người tham gia BHYT cho cơ sở KCB.
Cơ sở KCB thực hiện cung cấp dịch vụ y tế theo hợp đồng KCB BHYT đã ký với cơ quan BHXH cho người có thẻ BHYT. Do đó, để đảm bảo 9 quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia BHYT đòi hỏi phải có sự phối kết hợp tốt giữa cơ quan BHYT và cơ sở KCB trong công tác KCB BHYT cho người bệnh, cơ sở KCB phải đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng KCB để đảm đương vai trò chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của BHYT. Vai trò của bảo hiểm y tế Về mặt kinh tế: BHYT giúp cho người tham gia khắc phục khó khăn cũng như ổn định về mặt tài chính khi chẳng may gặp ốm đau, bệnh tật. Nhờ có BHYT, người dân sẽ phòng tránh rủi ro tài chính khi đau ốm, bởi vì họ đã có một phần như là quỹ dự phòng của mình giành riêng cho vấn đề chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt với những người nghèo chẳng may mắc bệnh.
Về mặt xã hội: BHYT có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, trong việc hỗ trợ CSSK trong cộng đồng, người khỏe hỗ trợ cho người già, ốm đau, bệnh tật; số đông bù cho số ít. Tham gia BHYT vừa có lợi cho mình, vừa có lợi cho xã hội. Sự đóng góp của người tham gia BHYT chỉ là đóng góp phần nhỏ so với chi phí KCB khi họ gặp phải rủi ro ốm đau, đặc biệt là chi phí khi mắc bệnh hiểm nghèo. Về mặt pháp lý: Quyền chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của người dân được pháp luật tất cả các quốc gia trên thế giới ghi nhận và được cụ thể hóa thông qua việc tổ chức thực hiện BHYT nhằm được đảm bảo về quyền, lợi ích hợp pháp đối với người tham gia BHYT.
Ở nước ta, BHYT do nhà nước tổ chức thực hiện thông qua các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong công tác chăm sóc, KCB cho người dân, qua đó góp phần củng cố, nâng cao hiệu quả công tác an sinh xã hội. Pháp luật bảo hiểm y tế 1. Khái niệm pháp luật bảo hiểm y tế Pháp luật BHYT là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của pháp luật an sinh xã hội. Theo đó, pháp luật BHYT quy định về chế độ, chính sách BHYT như: đối tượng, mức đóng, trách nhiệm và phương thức đóng BHYT… Xuất phát từ tầm quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội, BHYT được tất cả các quốc gia điều chỉnh bằng việc ban hành hệ thống các văn bản quy phạm 10 pháp luật quy định về đối tượng, chế độ BHYT; tổ chức thực hiện BHYT, quỹ BHYT và xử lý vi phạm BHYT.
Tổng hợp các quy phạm pháp luật do một quốc gia ban hành nhằm điều chỉnh về đối tượng, chế độ BHYT; tổ chức thực hiện BHYT, quỹ BHYT và xử lý vi phạm BHYT trong phạm vi quốc gia đó tạo thành hệ thống pháp luật về BHYT. Tuy nhiên, pháp luật về BHYT ở các quốc gia có những điểm khác nhau nhất định. BHYT được xây dựng trên cơ sở tham gia của người dân, bằng cách đóng góp một phần thu nhập của mình để được hưởng chế độ BHYT nhằm giảm bớt những khó khăn kinh tế khi bị ốm đau, bệnh tật. BHYT là một chính sách xã hội của quốc gia nhưng đồng thời cũng là công cụ của Nhà nước nhằm tham gia vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân một cách hợp lý giữa các tầng lớp xã hội, giúp thực hiện xây dựng chế độ an sinh xã hội lâu dài và bền vững, góp phần đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Từ những vấn đề phân tích, có thể hiểu: Pháp luật BHYT bao gồm các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực BHYT với mục đích CSSK cho nhân dân, không vì mục đích lợi nhuận.