Chương 1: Một so van dé lý luận vé pháp luật thời giờ lam việc, thời giờ nghĩ ngơi va thực trang pháp luật lao động Việt Nam hiện hảnh. Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật vẻ thoi giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi tai ngân hàng Thương mại Cé phan Vietinbank chỉ nhánh tinh Ha Giang Chương 3: Mét số kién nghỉ hoàn thiện pháp luật và vả nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thời gid làm việc, thời giờ nghĩ ngơi tại ngân hang "Thương mai Cé phản Vietinbank chỉ nhánh tỉnh Ha Giang CHƯƠNG!. MOT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VE PHÁP LUAT THỜI GIG LAM VIỆC, THOI GIO NGHĨ NGƠI VÀ THUC TRANG PHAP LUAT LAO BONG VIET NAM HIEN HANH 1. Một số van đề lý luận về pháp luật thời giờ làm việc, thời giờ nghĩ ngơi LLL Khái niệm, ý nghĩa của thời giờ limviệc, thời giờ nghi ngơi ~ Khái niệm thời giờ lêm việc, thời giờ ughi ngơi Lâm việc và nghĩ ngơi là hai trang thái trái ngược nhau, 18 hai mặt trong quá trình sông va lao đồng của NLD.
Vé mặt lý luận, TGLV, TGNN có thể được xem xét dưới hai góc độ: Dưới góc đồ khoa học kinh té - lao động, thời giờ lam việc được xem xét chủ yêu dưới gúc đô của viếc tổ chức khoa học quả trinh lao động, tức phải đăm bão lam sao với sự hao phi thời gian lao động ít nhất ma lại được năng suất và hiệu quả lao đồng cao nhất. Khoa học nay nghiên cứu để đưa ra khoảng thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi hop lý nhất để NLD hoàn thánh được định mức lao đông hoặc khối lượng công việc đã được giao một cách hiệu quả nhất. Do vay, TGLV được hiểu là khoảng thời gian cần thiết để hoán thành một công việc theo định mức thời gian, còn thời giờ nghĩ ngơi la khoảng thời gian cần thiết để NLD tái tạo sức lao đông" Dưới goc đồ pháp lý, TGLV, TGNN được hiểu là (i) một chế định pháp. uất và (i) quyển, nghĩa vụ của các bên trong QHLD.
Ngay từ năm 1919, ILO đã thông qua Công ước số 1 về độ đài TGLV trong công nghiệp, hưởng tới việc thông qua tiêu chuẩn ngày lâm việc 8 gid trong một ngày hay 48 giờ một tuần va cũng nhắn mạnh đây là van dé có tính quan trọng đặc biệt va cấp thiết, tạo niển móng cho các Công ước tiếp theo cũa ILO cũng như các quốc gia ác Pian Ging Bi (GEE) Q99), 28 ang tan ang” mong G6 nh dela ing rất eo, ashoe Quế ga Nội Hà Nó 204 0250 9 định cụ thể TGLV, TGNN phủ hợp với điểu kiện kinh tế - x4 hội của minh. Tuy nhiên, trong Công ước này không có quy đính cu thể vẻ khái niệm TGLV, TGNN ma phải đến Công ước số 30 mới có định ngiĩa cụ thể. Theo Điều 2 Công ước số 30 của ILO vẻ TGLV trong thương mai va văn phòng. “TGLV có ng)ữa là thôi gian trong đó NLD làm thuê được đặt debt sự sắp ditt của NSDLĐ, trong đô không bao gém thời giờ nghĩ ngơi mà NLD không năm dưới sự sắp đặt của NSDLĐ”.
Ở các nước khác, chẳng hạn trong Luật "Việc làm Singapore sắc định "TGLV là thot gian một NLD được chủ sử dưng thuê làm việc mà NLD Riông được tee Iden việc riéng của minh, không bao gốm thot gian được phép nghi ngơi và ăn uống". Hay trong BLLĐ Philippines, TGLV bao gồm toàn bộ khoảng thời gian NLD được yêu cau thực hiện nhiệm vu hay có mặt tai nơi làm việc va toan bộ thời gian NLD đã phải ti qua hoặc đã thừa nhân đã làm việc. Mặc dù có sự khác nhau trong diễn đạt nhưng các văn bản đều đã nói được nội dung cốt yêu trong khái tiệm. TGLY, đó là thời gian NLD phải thực hiện nghĩa vụ lao động dưới sự quản lý, giám sát của NSDLD.
Tương tư như TGLV, TGNN được ghi nhân như sau TGNN 1d khoảng thời gian ma NLD được phép sử dung để ăn, uồng, ngũ, nghĩ, vui chơi và thöa mễn các nhu cầu khác trong ngày. Tuy nhiền ở Việt Nam hiện nay hai khái niêm này chưa được ghi nhận. trong các văn bản pháp luật. Theo Giáo trình luật lao động Việt Nam, Tập 1, TGLV là khoảng thời gian ma NLD phải có mặt tại địa điểm lam việc va thực.
hiện những nhiệm vụ được giao trên cơ sở quy định pháp luật, những thöa thuận hợp pháp trong quan hệ lao đông và NQLĐ của đơn vị TGNN là thời gian NLD không phải thực hiện nghĩa vụ lao đồng và có toan quyển sử dụng thời gian nay theo ý của minh” Trong tỉnh hình phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp cũng như sự tác động của đại dich Covid-19 trước đây, việc NLD lam việc có sự thay “Trường Đị học Luật Hà Nột QOD), Giáo on he lao đng Hit, Tip 1, Neb Công nn dân, Hà Nei 10 đôi, đôi với một số công việc, họ có thé lam việc trực tuyên hoặc làm việc tại nhả (work from home) thông qua các nên tang do công ty yêu cầu. Theo đó, TGLY, TGNN được sác định linh hoạt hơn. Từ những nghiên cứu trên, theo quan điểm của tác gia, TGLV, TGNN. được hiểu như sau: TGLV là khoảng thời gian NLD thực hiện những nghĩa vụ được giao trên cơ sỡ quy định của pháp luật, những théa thuân hợp pháp cia các bên và quy định trong NQLB cia đơn vị.
TGNN la thời gian NLD không phải thực hiên nghĩa vụ lao đông và có toàn quyển sử dụng thời gian nay theo ý của mình. ~ Ý nga của thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Cho đến nay, pháp luật lao động của các quốc gia trên thé giới đều có quy định vẻ thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi. Các quy định nay đã tao ra hành lang pháp lý nhằm bao vệ sức khöe của NLD, có tính đến lợi ích hợp pháp của NSDLĐ, vừa không thiệt hai cho sin xuất kinh doanh, tạo sự cạnh tranh không lành mạnh, vừa không lâm giảm sút kh năng lao động kha năng NSDLD và Nha nước. Cu tỉ 'như sau: Đối với NLD: "Thử nhất, việc quy đính thời gian làm việc, thời giờ nghĩ ngơi tạo điểu kiên cho NLD thực hiên đẩy đủ nghĩa vu lao đông trong quan hệ, đồng thời lâm căn cử cho NLD được hưởng thụ các quyển lợi như tién lương tiến thưởng các chế đô tro cấp.
Thực tế hiện nay cho thấy, đa số được trả lương, theo giờ lam việc, thưởng được sắc định đựa trên số ngàythảng lâm việc Thứ hai, có ÿ nghĩa quan trong trong việc bảo hộ lao động, dim bảo quyển nghỉ ngơi của NLD. Vì mục đích lợi nhuận, NSDLĐ thường có xu hướng tận dung, kéo thời gian lam việc để triệt để khai thác sức lao động của NLD, dem lại lợi nhuận cao nhất. Việc quy định thời giờ lâm việc ở mức tôi hoặc nit ngắn thời giờ lam việc với một số đối ul tượng có ý nghĩa nhằm tránh sự lạm dụng sức lao động, đảm bao tai sin xuất sức lao đông, hạn ché tai nan lao động Đối với NSDLD. Việc quy định thời giờ làm việc, thời giờ nghĩ ngơi giúp cho NSDLD “xây dựng kế hoạch tổ chức sin xuất, sử dụng lao đông hop lý, khoa hoc để trừ đồ hoàn thành các mục tiêu sản xuất kinh doanh để ra.
Căn cứ vào khối lượng tính chất công việc, thời gian cén thiết để hoàn thành và thời gian lam việc pháp luật quy định thì NSDLĐ sẽ xây dựng định mức lao động xác định chỉ phí nhân công cách bổ trí sử dụng lao động linh hoạt dim bão đạt hiệu quả cao nhất. Mặt khác, những quy định vẻ thời giờ lam việc, thời giờ nghỉ ngơi còn phan ánh trình độ tổ chức và năng suất lao đông của một quốc gia. Điểu đó thể hiện ở các quốc gia có nên kinh tế phát triển khi quy định về TGLV, TGNN, Nhà nước côn phải dựa vào năng suất lao động của xã hội trong từng thời kỷ để đâm bão NSDLĐ có thể sản xuất kinh doanh có lãi. Chẳng hạn, khẩu hiệu ngày lm việc 8 giờ đã được đưa ra từ rat lâu trong cuộc biểu tinh của công nhân thánh phổ Chicago (Mỹ) ngày 01/05/1886.
Thời giờ làm việc tôi da 8 giữ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một tuẫn cũng được quy định tại Công tước số 01 năm 1919 của ILO vẻ thời giờ lam việc cho các cơ sỡ công nghiệp và Công ước số 30 năm 1930 của ILO vé thời giờ làm việc cho các cơ sở thương mại, văn phong Sau đó, Công ước số 35 năm 1935 của ILO đã rút ngắn thời giờ làm việc xuống còn tối đa 40 giờ một tuần. Y ngiĩa đối với Nhà nước: Đối với sự phát triển kinh tế xã hồi, việc quy đình thời TGNN còn gop phan nâng cao trách nhiệm của mỗi NLD trong việc xây dung, giữ gin, phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc khi tham gia nghĩa những ngày lễ, t L, ngày trong đại của đất nước. Cùng với các quy định vẻ tiên lương, bão xã hội, quy định TGLV, TGNN còn phần ảnh được trình độ phát trì của đất nước va tính wu việt của chế độ. Thông thường, TGLV ở các nước phát trị có xu hướng it hơn ở các nước đang phát tnén va kém phat triển.
Nguyên nhân lả do trình độ phát triển của khoa học công nghệ, độ tuổi của người dân va văn hóa lao động của các nước khác nhau. Căn cứ vào TGLV, TGNN, cơ quan nha nước có thẩm quyền thực hiện quyền quên lý lao đông, thực hiện việc kiểm tra, giám sét qua trình thực hiện pháp luật lao đông Đây là căn cử để cơ quan nhà nước xử phạt trong trường hợp các đơn vị sử dung lao động vi phạm quy định của pháp luật, từ đó giúp cho QHLD phát triển én định. Khi QHLĐ phát triển én định sẽ là nên tang để tăng năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường góp phân phát triển kinh tế, ôn định zã hội. Pháp luật về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi 1.
Khái niệm pháp luật về thời giờ làm việc, thời gid nghĩ ngơi Việc điều chỉnh pháp luật TGLV và TGNN ở i quốc gia la viếc cân thiết, nhằm xác định các tiêu chuẩn làm căn cứ để các đơn vị sử dụng lao đông quy định cho phù hợp với đơn vị của mình Thông thường TGLV, TGNN được pháp luật các quốc gia dé cập trong ba loại quy định. Thứ nhất, những quy định khung của Nha nước, bao gồm các mức tôi thiểu và mức tôi đa.