Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TAI NẠN LAO ĐỘNG VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƢỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƢỜI LAO ĐỘNG BỊ TAI NẠN LAO ĐỘNG 1. Khái quát chung về tai nạn lao động, trách nhiệm của ngƣời sử dụng lao động đối với ngƣời lao động bị tai nạn lao động 1. Khái niệm tai nạn lao động 1. Định nghĩa tai nạn lao động Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, TNLĐ được hiểu là tai nạn bất ngờ xảy ra do lao động hay trong quá trình lao động, có thể gây tử vong hoặc gây cho cơ thể tổn thương hoặc một rối loạn chức năng vĩnh viễn hay tạm thời [1, tr.
Có rất nhiều loại TNLĐ: ngã, đụng dập, điện giật, cháy, bỏng, các trường hợp nhiễm hóa chất cấp tính do sự cố … Có thể thấy cách định nghĩa này của Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam tập trung vào tính không lường trước của TNLĐ, hậu quả gây ra cho sức khỏe con người và nguyên nhân dẫn đến TNLĐ. Từ điển Sức khỏe môi trường và nghề nghiệp Lewis định nghĩa: TNLĐ là một sự kiện không được lập kế hoạch, không biết trước và không mong muốn có thể hoặc gây thiệt hại về thể chất và/hoặc phá hủy tài sản; hoặc bất kỳ sự kiện nào không mong muốn gây trở ngại hoặc cản trở quy trình sản xuất hoặc một quá trình [31, tr. Từ điển Lewis khi định nghĩa về TNLĐ đã tập trung vào ý chí của các chủ thể khi TNLĐ xảy ra – “không mong muốn” và “không biết trước”, đồng thời cách định nghĩa này làm rõ hậu quả gây ra từ TNLĐ, có thể là thiệt hại cho con người hoặc tài sản, thiệt hại này có thể là thiệt hại thực tế hoặc “đe dọa” gây thiệt hại, thiệt hại này tác động trực tiếp tới quá trình làm việc và sản xuất. 7 Trong các văn bản pháp lý của Việt Nam, cụ thể theo quy định tại Khoản 1 Điều 142 BLLĐ năm 2012, cùng với đó, tại khoản 8 Điều 3 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 cũng đưa ra định nghĩa thống nhất về TNLĐ giống quy định tại Khoản 1 Điều 142 BLLĐ 2012, theo đó: “Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”.
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về TNLĐ nhưng nhìn chung đều thống nhất cách hiểu TNLĐ là những tai nạn xảy ra bất ngờ, con người không thể dự báo trước về không gian và thời gian, gắn với quá trình làm việc của NLĐ trong một khoảng thời gian và không gian cụ thể, để lại hậu quả chết người hoặc làm tổn thương, hủy hoại chức năng hoạt động bình thườn00000g của một bộ phận nào đó trên cơ thể NLĐ. Có thể nói, so với quan điểm của thế giới thì cách định nghĩa về TNLĐ của Việt Nam trong văn bản pháp lý đã khá đầy đủ, chính xác và rõ ràng. Đặc điểm của tai nạn lao động Trong phạm vi Luận văn này, phạm vi xem xét TNLĐ và NLĐ bị TNLĐ đặt trong quan hệ lao động làm công, ăn lương nên có thể xác định TNLĐ có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, người bị TNLĐ phải là NLĐ làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cho cá nhân; người thử việc, người học nghề, tập nghề để làm việc cho NSDLĐ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 BLLĐ năm 2012: “NLĐ là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và làm việc theo hợp đồng lao động được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ”.
Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau: hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng, hợp đồng 8 lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng (Điều 22 BLLĐ). Hình thức của hợp đồng lao động được thể hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói (Điều 16 BLLĐ). Thứ hai, hậu quả do TNLĐ gây ra làm ảnh hưởng tới các bộ phận, chức năng của cơ thể NLĐ như tổn thương gây ra gãy tay, gãy chân, mù mắt. hoặc bản thân NLĐ tử vong.
Ngoài ra, TNLĐ còn có thể dẫn tới sự thiệt hại về của cải, vật chất của NSDLĐ như sập nhà, hỏng máy móc, thiết bị…Có thể thấy rằng hậu quả của TNLĐ là những rủi ro mà NSDLĐ và NLĐ đều không mong muốn xảy ra. Việc xảy ra TNLĐ ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ, tính mạng của NLĐ, mở rộng ra đó là ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của đơn vị sử dụng lao động. Thứ ba, địa điểm xảy ra TNLĐ thường được xác định tại một trong ba nơi: (1) tại nơi làm việc theo quy định và thỏa thuận trong hợp đồng lao động; (2) ngoài nơi làm việc theo yêu cầu của NSDLĐ; (3) trên tuyến đường đi và về hợp lý từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại. Việc xác định địa điểm xảy ra TNLĐ là căn cứ quan trọng để NSDLĐ cũng như cơ quan chức năng có thẩm quyền thực hiện các trách nhiệm của mình.
Việc xác định địa điểm xảy ra TNLĐ có yếu tố gắn với việc thực hiện công việc mà NSDLĐ giao cho mang tính chất tiên quyết, trên cơ sở tình hình thực tế thì địa điểm này có thể xác định một cách linh hoạt như trên tuyến đường đi và về hợp lý từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại. Điều này góp phần bảo vệ tốt hơn quyền lợi cho NLĐ khi xảy ra các sự kiện TNLĐ không mong muốn. Thứ tư, thời gian xảy ra TNLĐ được xác định gắn liền với địa điểm xảy ra TNLĐ, đó là trong giờ làm việc hoặc ngoài giờ làm việc. Việc xác định “trong giờ làm việc” căn cứ vào sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ trên cơ sở quy định của pháp luật, quy định của thỏa ước lao động tập thể (nếu có), 9 hoặc trong nội quy lao động.
Thời giờ làm việc có thể là ban ngày hoặc ban đêm, không quá 8 giờ/ngày và 48 giờ/tuần [40, tr.79], chưa kể thời gian làm thêm khác (nếu có). Thời giờ làm việc cũng được xác định đối với các loại thời giờ như: nghỉ giải lao theo tính chất của công việc, nghỉ cần thiết trong quá trình lao động cho nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người, thời giờ nghỉ mỗi ngày 60 phút đối với lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nghỉ mỗi ngày 30 phút đối với lao động nữ trong thời gian hành kinh [20, tr.Thời gian xảy ra tai nạn cũng được tính là thời điểm xảy ra TNLĐ là thời gian ngoài giờ làm việc khi NLĐ đang làm công việc theo yêu cầu của NSDLĐ và thời điểm NLĐ bị tai nạn khi đang trên đường đi làm hoặc đang trên đường về trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý [20, tr. Thứ năm, TNLĐ xảy ra do sự tác động bởi những yếu tố nguy hiểm, độc hại trong quá trình thực hiện công việc, nhiệm vụ mà NSDLĐ giao. Bên cạnh đó, trường hợp NLĐ bị tai nạn khi đang làm việc do tác động bởi những yếu tố khách quan, không phải do công việc gây ra như lũ lụt, động đất, hỏa hoạn.
cũng được coi là TNLĐ, miễn là tai nạn xảy ra khi họ đang làm nhiệm vụ và thực hiện công việc theo yêu cầu của NSDLĐ, không nhất thiết tai nạn đó phải do chính công việc họ đang thực hiện gây nên. Như vậy, có thể nói dấu hiệu quan trọng nhất để xác định TNLĐ là tai nạn đó luôn gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ của NLĐ. Chỉ được coi là TNLĐ khi tai nạn đó xảy ra trong quá trình NLĐ thực hiện các nghĩa vụ lao động được pháp luật quy định; theo nội quy, quy chế của đơn vị sử dụng lao động hoặc theo sự thỏa thuận của hai bên trong thỏa ước lao động tập thể, hợp đồng lao động… Những trường hợp khác đều được coi là tai nạn rủi ro và từ đó việc giải quyết tai nạn đặt ra đối với NLĐ sẽ được thực hiện với những quyền lợi và chế độ khác. Nguyên nhân tai nạn lao động Trong quá trình làm việc, có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn có thể gây ra TNLĐ cho NLĐ.
Với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, các loại máy móc thay thế sức lao động của con người ngày càng nhiều; môi trường lao động ngày càng đa dạng và phức tạp. Về mặt tiêu cực, điều này làm tăng các yếu tố nguy hiểm, độc hại cho NLĐ. Bởi NLĐ là những người trực tiếp tiếp xúc với các loại máy móc, tiếng ồn; làm việc trong môi trường nhiều khói bụi, nhiều chất độc hại. Thực tế cũng cho thấy trong số liệu thống kê của ILO cứ mỗi 15 giây lại có một NLĐ chết vì tai nạn liên quan đến lao động hay bệnh nghề nghiệp; mỗi 15 giây lại có 153 NLĐ bị tai nạn liên quan đến lao động.
Mỗi ngày có tới 6300 người chết vì nguyên nhân TNLĐ hoặc bệnh nghề nghiệp, nghĩa là nhiều hơn 2,3 triệu người trong một năm [48, tr. TNLĐ và bệnh nghề nghiệp có thể xảy ra với bất cứ ai, bất cứ lúc nào bởi các nguyên nhân sau đây: Nguyên nhân kỹ thuật: các thao tác kỹ thuật không đúng, không thực hiện nghiêm chỉnh các quy định về kỹ thuật an toàn, sử dụng máy móc không đúng đều có thể dẫn đến TNLĐ. Ngoài ra, việc các máy móc, thiết bị bị hư hỏng, các trang thiết bị bảo hộ bị hỏng hoặc không đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng cũng là một trong những nguyên nhân phổ biến. Trong những môi trường làm việc yêu cầu hệ thống che chắn, hệ thống tín hiệu, cơ cấu an toàn.
nếu những yếu tố này không được đảm bảo thì nguy cơ TNLĐ cũng rất lớn. Nguyên nhân tổ chức: TNLĐ có thể xảy ra do NLĐ không được hướng dẫn đầy đủ về công việc được giao từ phía người quản lý, sử dụng lao động; sử dụng NLĐ không đúng nghề nghiệp và trình độ nghiệp vụ của họ; hoặc thiếu giám sát và giám sát kỹ thuật không đầy đủ, làm các công việc không đúng quy tắc an toàn lao động, vệ sinh lao động; hoặc vi phạm chế độ lao động. 11 Nguyên nhân vệ sinh môi trƣờng: Đây là nhóm nguyên nhân chủ yếu gây ra các bệnh nghề nghiệp và phần nào là nguyên nhân gây TNLĐ.