Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quan hệ lao động là một dạng quan hệ xã hội đặc thù được thiết lập dựa trên giao dịch mua bán sức lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động. Chế định chấm dứt hợp đồng lao động đóng vai trò then chốt trong hệ thống pháp luật lao động, bởi hệ quả pháp lý của nó tác động trực tiếp đến việc làm, thu nhập và đời sống của người lao động, đồng thời ảnh hưởng đến sự ổn định tổ chức và hoạt động sản xuất kinh doanh của người sử dụng lao động.

Bộ luật Lao động năm 2019 được ban hành với nhiều sửa đổi, bổ sung liên quan đến quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động nhằm tạo sự chủ động cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm quyền lợi cho người lao động. Trong bối cảnh tác động của đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế, nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, cắt giảm nhân sự, trong đó có Công ty TNHH Kiểm toán CPA VIETNAM. Mặc dù doanh nghiệp này chủ yếu ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn và có chế độ đãi ngộ tương đối tốt, song quá trình đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vì các lý do khách quan và chủ quan vẫn nảy sinh vướng mắc, bất đồng và tranh chấp lao động. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống về quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành tại doanh nghiệp là yêu cầu thực tế cấp thiết.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động; phân tích, đánh giá toàn diện các quy định của Bộ luật Lao động năm 2019 và thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Kiểm toán CPA VIETNAM; từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.

Nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định gồm 03 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Nghiên cứu và làm rõ một số vấn đề lý luận về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ phía người sử dụng lao động và sự điều chỉnh của pháp luật.
  2. Phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ phía người sử dụng lao động và thực tiễn thực hiện tại Công ty TNHH Kiểm toán CPA VIETNAM.
  3. Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ phía người sử dụng lao động trên thực tế.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các quy phạm pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành; các điều ước quốc tế, pháp luật của một số quốc gia; cùng hồ sơ, thực tiễn áp dụng tại Công ty TNHH Kiểm toán CPA VIETNAM.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành luật lao động, tập trung vào ba nội dung cốt lõi: căn cứ chấm dứt, trình tự thủ tục thực hiện và trách nhiệm pháp lý phát sinh. Tác giả xác định rõ khóa luận không đi sâu nghiên cứu về vấn đề xử lý vi phạm hành chính và quy trình giải quyết tranh chấp lao động tại cơ quan tài phán.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý thuyết dựa trên các khái niệm pháp lý về hợp đồng lao động quy định tại Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019, định nghĩa về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ các công trình nghiên cứu của PGS. TS. Trần Thị Thúy Lâm, PGS. TS. Đào Thị Hằng. Hệ thống văn bản pháp lý nền tảng gồm:

  • Bộ luật Lao động năm 2019 (thay thế Bộ luật Lao động năm 2012).
  • Hiến pháp năm 2013, Luật Việc làm năm 2013, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.
  • Nghị định số 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động; Nghị định số 05/2015/NĐ-CP; Quyết định số 595/QĐ-BHXH của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
  • Chuẩn mực pháp lý quốc tế: Công ước số 158 năm 1982 và Khuyến nghị số 166 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về chấm dứt việc làm theo sáng kiến của người sử dụng lao động; các quy định pháp luật tham chiếu của Trung Quốc (Luật Hợp đồng lao động năm 2007), Liên bang Nga (Bộ luật Lao động năm 2001), Cộng hòa Pháp (Bộ luật Lao động), Philippines, Thái Lan, Lào, Indonesia, Malaysia, Thụy Điển, Hàn Quốc, Ấn Độ.

Phương pháp nghiên cứu khoa học được tác giả sử dụng cụ thể theo từng chương:

  • Chương 1: Phương pháp phân tích - tổng hợp, đối chiếu - so sánh và khái quát hóa đối tượng nghiên cứu.
  • Chương 2: Phương pháp khái quát hóa, phân tích diễn giải, bình luận, đánh giá, so sánh, liệt kê và tổng hợp.
  • Chương 3: Phương pháp tổng hợp, khái quát hóa, phân tích, đánh giá, liệt kê và so sánh.

Nguồn dữ liệu của công trình gồm các văn bản quy phạm pháp luật trong nước và quốc tế; các giáo trình, công trình nghiên cứu, luận văn thạc sĩ, bài viết trên các tạp chí chuyên ngành luật học (Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Luật sư Việt Nam, Tạp chí Nghề Luật, Tạp chí Khoa học Kiểm sát); cùng hệ thống quy chế, báo cáo tổ chức nhân sự của Công ty TNHH Kiểm toán CPA VIETNAM.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ phía người sử dụng lao động

Chương 1 làm rõ các phạm trù lý luận cơ bản: đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ phía người sử dụng lao động là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của một bên nhằm kết thúc quan hệ lao động trước thời hạn hoặc trước khi công việc hoàn thành mà không phụ thuộc vào sự chấp thuận của bên kia. Tác giả phân tích 04 đặc điểm pháp lý cơ bản:

  1. Bản chất là hành vi pháp lý đơn phương bảo vệ quyền tự do kinh doanh và quyền quản lý, tuyển chọn, sử dụng lao động của người sử dụng lao động.
  2. Là quyền có giới hạn, bị khống chế bởi các điều kiện luật định nhằm tránh sự tùy tiện, bảo đảm sự cân bằng lợi ích trong quan hệ lao động.
  3. Dẫn đến hậu quả làm hợp đồng lao động chấm dứt hiệu lực trước thời hạn xác định hoặc trước khi hoàn thành công việc.
  4. Tạo ra các hệ quả pháp lý đa dạng, ràng buộc trách nhiệm bồi thường và khôi phục quan hệ lao động nếu thực hiện trái pháp luật.

Về mặt ý nghĩa, quyền này bảo đảm cho người sử dụng lao động quyền tự do kinh doanh ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, tối ưu hóa năng suất và cơ cấu nhân sự; thúc đẩy người lao động nâng cao kỷ luật, trình độ chuyên môn; đồng thời tạo động lực cạnh tranh lành mạnh trên thị trường lao động.

Về nội dung điều chỉnh pháp luật, tác giả so sánh hai phương thức lập pháp: quy định theo phương pháp định tính (như Thụy Điển, Hàn Quốc - yêu cầu người sử dụng lao động chứng minh lý do chính đáng trước Tòa án) và phương pháp định lượng/liệt kê cụ thể (như Việt Nam, Trung Quốc, Nga, Philippines, Lào). Trình tự, thủ tục được chuẩn hóa quốc tế gồm ba bước: nghĩa vụ báo trước theo thời hạn hợp lý (Công ước 158 ILO); tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động (công đoàn); và thông báo hoặc xin ý kiến cơ quan quản lý nhà nước khi cắt giảm số lượng lớn lao động. Về trách nhiệm pháp lý, khi chấm dứt hợp pháp, người sử dụng lao động phải chi trả trợ cấp thôi việc/mất việc và thanh toán các quyền lợi tồn đọng; khi chấm dứt trái pháp luật, nguyên tắc chung là phải nhận lại người lao động và bồi thường thiệt hại theo quy định.

Tiêu chí pháp lý Quy định định lượng / Liệt kê (Việt Nam, Trung Quốc, Nga) Quy định định tính (Thụy Điển, Hàn Quốc)
Xác định căn cứ chấm dứt Liệt kê cụ thể từng trường hợp luật định (năng lực, vi phạm kỷ luật, bất khả kháng, tuổi nghỉ hưu...). Dựa trên tiêu chuẩn chung ("lý do chính đáng", "dư thừa lao động", "nhược điểm của người lao động").
Ưu điểm Rõ ràng, minh bạch, dễ áp dụng, hạn chế tranh chấp về mặt căn cứ xác lập. Linh hoạt, trao quyền tự chủ đánh giá cho doanh nghiệp theo thực tế.
Hạn chế Khó bao quát hết mọi biến động thực tiễn kinh tế - xã hội mới phát sinh. Tùy tiện trong đánh giá ban đầu; phụ thuộc lớn vào phán quyết của Tòa án khi có tranh chấp.

Chương 2: Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ phía người sử dụng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019 và thực tiễn thực hiện tại Công ty CPA VIETNAM

Chương 2 đi sâu phân tích toàn diện các quy phạm của Bộ luật Lao động năm 2019 và thực tiễn tại doanh nghiệp khảo sát:

Về các căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (Điều 36 BLLĐ 2019):

  • Nhóm liên quan đến năng lực làm việc hoặc lý do khách quan:
    • Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo tiêu chí đánh giá trong Quy chế của người sử dụng lao động (được tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở).
    • Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị liên tục 12 tháng (đối với hợp đồng không xác định thời hạn), 06 tháng (đối với hợp đồng xác định thời hạn từ 12-36 tháng) hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng (đối với hợp đồng dưới 12 tháng) mà khả năng lao động chưa hồi phục.
    • Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc.
    • Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 BLLĐ 2019 (lộ trình nam đủ 62 tuổi vào năm 2028, nữ đủ 60 tuổi vào năm 2035). Khác với BLLĐ 2012 quy định đây là trường hợp đương nhiên chấm dứt kèm điều kiện đóng BHXH, BLLĐ 2019 chuyển thành quyền đơn phương chấm dứt của người sử dụng lao động chỉ cần dựa vào độ tuổi.
  • Nhóm liên quan đến ý thức tổ chức, kỷ luật, đạo đức:
    • Hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động (15 ngày kể từ ngày hết hạn) mà người lao động không có mặt tại nơi làm việc mà không có thỏa thuận khác.
    • Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên.
    • Người lao động cung cấp thông tin không trung thực khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng.
  • Cắt giảm do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế; chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp (Điều 42, Điều 43).

Về các trường hợp cấm/hạn chế đơn phương chấm dứt (Điều 37 BLLĐ 2019):

  1. Người lao động đang điều trị ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo chỉ định của cơ sở y tế có thẩm quyền (trừ trường hợp điều trị quá thời hạn tại điểm b khoản 1 Điều 36).
  2. Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng hoặc các trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.
  3. Người lao động mang thai; người lao động đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi (mở rộng bảo vệ cho cả lao động nam).

Về thủ tục thực hiện:

  • Thời hạn báo trước: Ít nhất 45 ngày (hợp đồng không xác định thời hạn), 30 ngày (hợp đồng xác định thời hạn 12-36 tháng), 03 ngày làm việc (hợp đồng dưới 12 tháng và trường hợp ốm đau dài ngày). Riêng ngành, nghề, công việc đặc thù (thành viên tổ lái bay, nhân viên kỹ thuật bảo dưỡng máy bay, người quản lý doanh nghiệp, thuyền viên) tuân thủ thời hạn theo Điều 7 Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
  • Các trường hợp không phải báo trước: Tự ý bỏ việc từ 05 ngày liên tục không lý do chính đáng và không có mặt sau 15 ngày hết hạn tạm hoãn hợp đồng lao động (khoản 3 Điều 36).
  • Hình thức thông báo chấm dứt bắt buộc bằng văn bản (Điều 45).
  • Tham khảo ý kiến công đoàn cơ sở (khoản 6 Điều 42, khoản 2 Điều 44, khoản 3 Điều 177) và tổ chức đối thoại tại nơi làm việc (Điều 63).
  • Thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trước 30 ngày khi cắt giảm lao động do thay đổi cơ cấu, công nghệ, lý do kinh tế hoặc khi không đạt được thỏa thuận với ban lãnh đạo công đoàn cơ sở về việc chấm dứt hợp đồng của cán bộ công đoàn không chuyên trách.

Về trách nhiệm pháp lý:

  • Chấm dứt hợp pháp: Thanh toán đầy đủ các khoản tiền lương, phụ cấp trong vòng 14 ngày làm việc; chi trả trợ cấp thôi việc (Điều 46 - tính cho thời gian làm việc thực tế trừ thời gian tham gia BHTN, mức hưởng mỗi năm làm việc bằng nửa tháng lương bình quân 06 tháng liền kề) hoặc trợ cấp mất việc làm (Điều 47 - ít nhất bằng 02 tháng tiền lương); hoàn tất xác nhận và trả sổ BHXH, tài liệu cá nhân (Điều 48).
  • Chấm dứt trái pháp luật (Điều 41): Nhận lại người lao động vào làm việc; trả tiền lương, đóng BHXH, BHYT, BHTN trong những ngày không được làm việc cộng thêm ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng; trường hợp người lao động không muốn làm việc tiếp thì trả thêm trợ cấp thôi việc; trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại và người lao động đồng ý thì thỏa thuận bồi thường thêm ít nhất 02 tháng tiền lương.

Thực tiễn tại Công ty TNHH Kiểm toán CPA VIETNAM: CPA VIETNAM thành lập ngày 23/06/2004 theo Nghị định số 105/2004/NĐ-CP về kiểm toán độc lập, là công ty hợp danh đầu tiên trong ngành kiểm toán tại Việt Nam. Cơ cấu bộ máy tổ chức gồm: Hội đồng thành viên, Ban Tổng Giám đốc, Ban kiểm soát, Ban kiểm soát chất lượng, Phòng Hành chính Quản trị, Phòng Tài chính Kế toán, Phòng Nhân sự, Phòng Dịch vụ khách hàng.

Công ty chủ yếu giao kết hợp đồng không xác định thời hạn. Trong giai đoạn biến động kinh tế và dịch bệnh, việc áp dụng quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại đơn vị đã bộc lộ một số vướng mắc thực tiễn: khó khăn trong việc chứng minh nghĩa vụ "đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc"; quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc ở một số vị trí mang tính định tính; thủ tục chờ 30 ngày báo cáo cơ quan quản lý lao động đối với nhân sự công đoàn không chuyên trách kéo dài gây ảnh hưởng tiến độ cơ cấu lại bộ máy.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ phía người sử dụng lao động

Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn, tác giả đưa ra các nhóm yêu cầu và giải pháp:

  • Yêu cầu hoàn thiện pháp luật: Đảm bảo tính minh bạch, cân bằng giữa quyền tự do quản trị của người sử dụng lao động và an sinh xã hội của người lao động; tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho việc tái cơ cấu doanh nghiệp.
  • Hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể tiêu chí chứng minh người sử dụng lao động "đã tìm mọi biện pháp khắc phục" trong các sự kiện bất khả kháng (thiên tai, dịch bệnh).
    • Rút ngắn hoặc chuẩn hóa thời hạn 30 ngày báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về lao động đối với trường hợp chấm dứt hợp đồng với cán bộ công đoàn không chuyên trách khi không đạt được thỏa thuận, nhằm giảm thời gian chờ đợi thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.
    • Hướng dẫn chuẩn hóa khung xây dựng Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc tại các doanh nghiệp dịch vụ đặc thù.
  • Nâng cao hiệu quả thực thi tại Công ty CPA VIETNAM:
    • Hoàn thiện Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ với hệ thống tiêu chí định lượng rõ ràng cho từng phòng ban (kiểm toán, tư vấn, hành chính).
    • Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình đối thoại tại nơi làm việc và thủ tục thông báo bằng văn bản đúng thời hạn luật định.
    • Tối ưu hóa công tác quản lý hồ sơ nhân sự, chủ động chốt sổ BHXH và chi trả chế độ tài chính trong thời hạn 14 ngày để ngăn ngừa khiếu nại, tranh chấp.

Kết quả và đóng góp

Công trình đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ khung lý luận về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động dưới góc độ luật so sánh và luật thực định. Khóa luận phân tích chi tiết các điểm mới cốt lõi của Bộ luật Lao động năm 2019 so với Bộ luật Lao động năm 2012:

  • Bổ sung các căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động xuất phát từ ý thức của người lao động: tự ý bỏ việc 05 ngày liên tục không lý do chính đáng; cung cấp thông tin không trung thực khi giao kết hợp đồng.
  • Thay đổi tính chất pháp lý của căn cứ đủ tuổi nghỉ hưu từ "đương nhiên chấm dứt" (kèm điều kiện đóng BHXH) sang quyền đơn phương chấm dứt của người sử dụng lao động (chỉ căn cứ vào độ tuổi theo Điều 169).
  • Bổ sung quy định miễn trừ nghĩa vụ báo trước đối với 02 trường hợp vi phạm nghiêm trọng về thời gian làm việc (khoản 3 Điều 36).
  • Quy định thời hạn báo trước riêng biệt cho các nhóm ngành, nghề đặc thù theo Nghị định số 145/2020/NĐ-CP.
  • Quy định bắt buộc hình thức thông báo chấm dứt phải bằng văn bản (Điều 45).
  • Mở rộng phạm vi bảo vệ thai sản cho cả lao động nam đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi (khoản 3 Điều 37).

Về mặt đóng góp, tác giả đã gắn kết việc phân tích lý luận pháp luật với mô hình tổ chức thực tế của một doanh nghiệp kiểm toán độc lập tại Việt Nam (CPA VIETNAM), chỉ ra những khoảng trống pháp lý khi vận hành trong thực tiễn dịch bệnh/khủng hoảng kinh tế và đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện có tính ứng dụng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu ở các khía cạnh pháp luật lao động nội dung (căn cứ xác lập, trình tự thủ tục, hậu quả pháp lý của hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động). Tác giả chưa đi sâu nghiên cứu quy trình tố tụng giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án nhân dân, hoạt động của Hội đồng trọng tài lao động hoặc chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát thực tiễn áp dụng quy chế đánh giá công việc nội bộ tại các nhóm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp nhà nước; đánh giá tác động kinh tế - xã hội của việc thực thi chế định này theo các cam kết trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTA) và các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học, Luật Kinh tế, Quản trị nhân lực khi nghiên cứu chế định hợp đồng lao động và quan hệ lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019.
  • Cán bộ pháp chế, chuyên viên nhân sự (HR) và người quản lý tại các doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty dịch vụ chuyên nghiệp, trong việc thiết lập Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc, chuẩn hóa quy trình thông báo và giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc/mất việc làm.
  • Các nhà nghiên cứu lập pháp tham khảo khi đánh giá tính khả thi của các quy định về lý do kinh tế, bất khả kháng và thủ tục tham vấn tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Bộ luật Lao động năm 2019 quy định những trường hợp nào người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mà không cần báo trước?
Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động không phải thực hiện nghĩa vụ báo trước trong 02 trường hợp:

  • Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động (quy định tại điểm d khoản 1 Điều 36).
  • Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên (quy định tại điểm e khoản 1 Điều 36).

2. Điểm khác biệt căn bản về căn cứ người lao động đến tuổi nghỉ hưu giữa Bộ luật Lao động năm 2012 và Bộ luật Lao động năm 2019 là gì?
Theo Bộ luật Lao động năm 2012, việc người lao động đủ tuổi nghỉ hưu và đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc trường hợp đương nhiên chấm dứt hợp đồng lao động. Trong khi đó, Bộ luật Lao động năm 2019 đã chuyển trường hợp này thành quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động khi người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo Điều 169 (lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu đến 62 tuổi với nam vào năm 2028 và 60 tuổi với nữ vào năm 2035) mà không còn bắt buộc phải kèm theo điều kiện đã đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội.

3. Khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, trách nhiệm pháp lý theo Điều 41 Bộ luật Lao động năm 2019 gồm những nội dung nào?
Người sử dụng lao động phải gánh chịu các nghĩa vụ pháp lý:

  • Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng đã giao kết.
  • Phải trả tiền lương, đóng BHXH, BHYT, BHTN trong những ngày người lao động không được làm việc và trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng.
  • Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng.
  • Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, ngoài các khoản trên, người sử dụng lao động phải trả thêm trợ cấp thôi việc theo Điều 46.
  • Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại và người lao động đồng ý thì ngoài các khoản trên và trợ cấp thôi việc, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.

4. Những trường hợp nào pháp luật cấm người sử dụng lao động thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?
Theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2019, người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp:

  • Người lao động bị ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền (trừ trường hợp ốm đau quá hạn theo điểm b khoản 1 Điều 36).
  • Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.
  • Người lao động mang thai; người lao động đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi (áp dụng bảo vệ cho cả lao động nam và lao động nữ).

5. Thời hạn báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với các ngành, nghề, công việc đặc thù được quy định như thế nào?
Đối với các ngành, nghề, công việc đặc thù (thành viên tổ lái tàu bay, nhân viên kỹ thuật bảo dưỡng tàu bay, người quản lý doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, thuyền viên làm việc trên tàu biển), thời hạn báo trước không áp dụng mức chung (45 ngày, 30 ngày, 03 ngày) mà thực hiện theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP của Chính phủ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mai Hoa đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực định về chế định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động từ phía người sử dụng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019. Công trình phân tích sâu sắc các căn cứ, trình tự thủ tục và hệ quả pháp lý trong mối tương quan so sánh với chuẩn mực quốc tế và pháp luật các quốc gia. Thông qua khảo sát thực tiễn tại Công ty TNHH Kiểm toán CPA VIETNAM, đề tài đã chỉ ra những vướng mắc cụ thể trong quá trình áp dụng luật, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy phạm và nâng cao hiệu quả thi hành, góp phần bảo đảm sự hài hòa quyền lợi giữa các chủ thể trong quan hệ lao động.