Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động 1. Khái niệm đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học: “Chấm dứt HĐLĐ là việc NLĐ và người sử dụng lao động hoặc một trong hai bên không tiếp tục HĐLĐ, chấm dứt quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận”. Hành vi này có thể làm chấm dứt hiệu lực của HĐLĐ đã được xác lập trước đó và làm chấm dứt quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và NLĐ [12, tr.
Trước hết là đôi nét về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Đây là trường hợp người lao động hoặc người lao động tự mình chấm dứt hiệu lực của hợp đồng lao động đã được hai bên thỏa thuận, giao kết. Tất cả các điều khoản trong hợp đồng không còn là căn cứ để các bên bắt buộc thực hiện. Trong đó, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là việc người lao động hoặc người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động không tuân thủ các trường hợp mà pháp luật cho phép mỗi bên được quyền đơn phương chấm dứt.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là việc tự ý chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn mà không có sự cùng thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động của một trong các bên tham gia quan hệ hợp đồng lao động 1. Đặc điểm đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Về cơ bản, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ có các đặc điểm sau đây: 11 luan an Thứ nhất, đơn phương chấm dứt HĐLĐ là quyền của một chủ thể trong quan hệ HĐLĐ (người sử dụng lao động và NLĐ). Khác với khi tạo lập HĐLĐ, đòi hỏi phải có sự thương lượng, thỏa hiệp của cả hai chủ thể trong quan hệ lao động là NLĐ và người sử dụng lao động, đơn phương chấm dứt HĐLĐ chỉ xảy ra bởi ý chí của NLĐ hoặc người sử dụng lao động nhưng được pháp luật thừa nhận và đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước trong lĩnh vực lao động. Sự kiện đơn phương chấm dứt HĐLĐ là kết quả được hình thành bởi ý chí chủ quan của một bên trong quan hệ HĐLĐ.
Hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ của chủ thể là một hành vi pháp lý được quy định trong pháp luật lao động hiện hành. Bởi việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ của một bên trong quan hệ HĐLĐ là xử sự của một bên trong quan hệ lao động được pháp luật gắn với việc làm chấm dứt quan hệ pháp luật lao động. Thứ hai, hành vi đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ hoặc người sử dụng lao động dẫn đến việc HĐLĐ được ký sẽ chấm dứt hiệu lực pháp lý trước thời hạn hoặc trước khi công việc theo HĐLĐ được hoàn thành. Thứ ba, đơn phương chấm dứt HĐLĐ tạo ra những hệ quả pháp lý đa dạng ảnh hưởng đến cả người sử dụng lao động, NLĐ và xã hội.
Đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong các trường hợp cụ thể sẽ làm phát sinh những hệ quả pháp lý nhất định. Hệ quả pháp lý trong các trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ rất đa dạng. Đơn phương chấm dứt HĐLĐ từ phía NLĐ sẽ có hệ quả pháp lý khác với đơn phương chấm dứt HĐLĐ từ phía người sử dụng lao động. Thứ tư, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ của bất kỳ bên nào nhưng đúng pháp luật sẽ giải phóng cho các chủ thể của HĐLĐ khỏi các nghĩa vụ ràng buộc trong HĐLĐ đã ký trước đó.
Đơn phương chấm dứt HĐLĐ sẽ giúp chủ thể có ý chí đơn phương chấm dứt HĐLĐ được giải phóng khỏi quyền và nghĩa vụ đã bị ràng buộc trong HĐLĐ trước đó. 12 luan an Thứ năm, tính chất tương hỗ của quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể khi các chủ thể đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Quan hệ lao động cá nhân (NLĐ và người sử dụng lao động), quan hệ lao động tập thể (tập thể NLĐ với người sử dụng lao động) luôn có sự tương tác, hỗ trợ lẫn nhau bởi HĐLĐ mang tính cá nhân được thực thi trên cơ sở thỏa thuận giữa NLĐ và người sử dụng lao động, song cũng mang tính chất tập thể bởi hoạt động lao động thường do một nhóm người thực hiện. Đơn phương chấm dứt HĐLĐ là quan hệ lao động cá nhân giữa NLĐ và người sử dụng lao động được thực hiện theo ý chí của một trong các bên hoặc theo quy định của pháp luật.
Phân loại đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này có thể phân loại các trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ bởi người sử dụng lao động, bao gồm cụ thể như sau [19]: - Trường hợp NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo HĐLĐ đã được ký giữa chủ thể sử dụng lao động và NLĐ; - Trường hợp NLĐ bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo HĐLĐ không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với NLĐ làm theo HĐLĐ xác định thời hạn và quá nửa thời hạn HĐLĐ đối với người làm theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của NLĐ bình phục, thì NLĐ được xem xét để tiếp tục giao kết HĐLĐ; - Trường hợp thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc; 13 luan an - Trường hợp người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau khi hết thời hạn tạm hoãn HĐLĐ; - Trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động hoặc vì lí do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã; - Trường hợp người lao động có hành vi vi phạm pháp luật, ý thức tổ chức kỷ luật và nội quy nơi làm việc như hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma túy trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ… 1. Điều chỉnh bằng pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động 1. Khái niệm pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Trong lĩnh vực lao động, vai trò của Nhà nước không chỉ là đề ra việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động mà còn phải cân nhắc, sắp xếp, xây dựng các công cụ đảm bảo sự cân bằng quyền và lợi ích của tất cả các bên trong quan hệ lao động, qua đó tạo ra sự ổn định, hài hòa của thị trường lao động và toàn xã hội.
Khi điều chỉnh việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ, pháp luật bảo vệ và định hướng cho sự phát triển của các quan hệ này theo ý chí chủ quan của Nhà nước, tạo khung pháp lý để hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của đơn phương chấm dứt HĐLĐ [21]. Đơn phương chấm dứt HĐLĐ, một mặt là quyền của NLĐ, người sử dụng lao động được nhà nước cho phép sử dụng hợp pháp và có hiệu quả. Mặt khác, đơn phương chấm dứt HĐLĐ dù đúng pháp luật hay trái pháp luật do các chủ thể thực hiện cũng có thể để lại những hậu quả tiêu cực, ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển kinh tế, xã hội. Do đó, khi đặt ra các quy 14 luan an phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động đơn phương chấm dứt HĐLĐ, các quốc gia cần rất thận trọng, vừa không quy định quá nghiêm khắc và cứng nhắc sẽ làm mất đi tác dụng tích cực của đơn phương chấm dứt HĐLĐ, vừa không quy định quá dễ dãi dẫn đến hiện tượng NLĐ, người sử dụng lao động lạm dụng đơn phương chấm dứt HĐLĐ bất ngờ, hàng loạt và không tuân thủ quy định, gây ảnh hưởng xấu đến chủ thể còn lại và sự phát triển kinh tế xã hội.
Đơn phương chấm dứt HĐLĐ liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên trong quan hệ lao động và lợi ích chung của xã hội. Đây là bài toán khó đặt ra đối với các nhà lập pháp. Để giải bài toán này, có rất nhiều cách khác nhau tuỳ theo quan điểm lập pháp của mỗi quốc gia. Một số quốc gia theo quan điểm bảo vệ lợi ích của NLĐ nhiều hơn so với người sử dụng lao động (bởi quan điểm NLĐ ở vị trí yếu thế hơn so với người sử dụng lao động) có thể quy định các điều kiện đơn phương chấm dứt HĐLĐ hợp pháp tương đối dễ dàng để tạo thuận lợi cho NLĐ khi tiến hành đơn phương chấm dứt HĐLĐ.
Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động Thứ nhất, điều chỉnh bằng pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa Chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc thành tựu của văn minh nhân loại, thúc đẩy vai trò tích cực của kinh tế thị trường trong việc phát triển sức sản xuất, xã hội hóa lao động, là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn vừa qua. Với vai trò là công cụ để nhà nước quản lý có hiệu quả các lĩnh vực của đời sống xã hội, là phương tiện thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách của nhà nước, pháp luật cũng phải được xây dựng trên 15 luan an cơ sở đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt trong quan hệ đơn phương chấm dứt HĐLĐ, là một quan hệ nhạy cảm, có ảnh hưởng lớn đến thị trường lao động cũng như sự phát triển kinh tế - xã hội, tính định hướng xã hội chủ nghĩa càng có vai trò quan trọng hơn nữa. Định hướng xã hội chủ nghĩa trong việc điều chỉnh bằng pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đòi hỏi phải bảo đảm lợi ích của xã hội thông qua vai trò điều phối của Nhà nước, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của NLĐ – là bên yếu thế hơn trong quan hệ lao động, bên cạnh việc bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong mối quan hệ này [29, tr.
Thứ hai, điều chỉnh bằng pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các bên trong quan hệ lao động.