Chương I). Từ khái niệm trên, để xác định một người là viên chức có thể căn cứ vào các tiêu chí như sau: Một là, công dân Việt Nam. Công dân Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch 2008 ( sửa đổi, bổ sung năm 2014) được xác định là: người mang quốc tịch Việt Nam. Tiêu chí này cũng tương tự như cán bộ, công chức.
Mặc dù, theo quan điểm của nhiều nhà khoa học quy định viên chức phải là công dân Việt Nam là một quy định quá chặt chẽ. Nếu như cán bộ, công chức công việc mang tính chính trị - hành chính đòi hỏi phải là công dân Việt Nam để đảm bảo an ninh trật tự thì đối với viên chức là những người gắn liền với trình độ, chuyên môn cao thì việc sử dụng viên chức là người nước ngoài trở thành một nhu cầu quan trọng đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi trình độ chuyên môn cao như giáo dục hay y tế [17; 9]. Hai là, nơi làm việc Viên chức làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập. Đây cũng là điểm khác biệt so với cán bộ, công chức khi các đối tượng này chủ yếu làm việc trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện (trừ một số công chức là lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập).
Theo khoản 1 Điều 9 Luật Viên chức năm 2010, đơn vị sự nghiệp công lập được hiểu là “…tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ 9 Luan van chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”. Dịch vụ công bao gồm các hoạt động phục vụ nhu cầu chung của xã hội, các quyền và lợi ích cơ bản hợp pháp của con người và công dân như giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, bảo hiểm, an sinh xã hội. Thời kỳ bao cấp, Nhà nước là chủ thể độc quyền trong việc tổ chức và trực tiếp cung cấp dịch vụ công bằng nguồn kinh phí được cấp từ ngân sách nhà nước, những người làm việc ở đây hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước và theo định hướng XHCN, để nâng cao chất lượng dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội trong điều kiện cạnh tranh của thị trường và nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước có giới hạn, Nhà nước đã tiến hành xã hội hoá các dịch vụ công thông qua việc huy động, tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của người dân và các tổ chức vào hoạt động cung cấp dịch vụ công.
Tuy nhiên vai trò của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ công là rất quan trọng nên Nhà nước vẫn tự tổ chức ra các đơn vị cung cấp dịch vụ công cho xã hội. Và các đơn vị sự nghiệp công lập là các tổ chức do Nhà nước lập ra và vẫn giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp dịch vụ trong các lĩnh vực: Giáo dục đào tạo; dạy nghề; y tế; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin truyền thông và báo chí; khoa học và công nghệ. Ba là, chế độ tuyển dụng và hình thức làm việc Viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng làm việc. Đây cũng là điểm khác biệt với cán bộ, công chức là người trong biên chế nhà nước.
Thuật ngữ “ hợp đồng làm việc” lần đầu tiên được quy định trong Nghị định 116/2003/NĐ-Cp về tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, công chức trong đơn vị sự nghiệp công lập đánh dấu một xư hướng mới thay thế cho chế độ “biên chế” tồn tại rất lâu trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước. Hợp 10 Luan van đồng làm việc có hai loại: có thời hạn và không thời hạn. Việc xác định viên chức làm việc theo chế độ hợp đồng là điểm mới trong tư duy quản lý nhân sự của nhà nước. Hợp đồng làm việc là căn cứ để viên chức và bên tuyển dụng có sự thỏa thuận về vị trí việc làm, tiền lương, chế độ đãi ngộ, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên… Hợp đồng làm việc là cơ sở pháp lí để sau này xử lí các việc liên quan đến việc vi phạm quyền hay các vấn đề khác phát sinh giữa hai bên.
Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với cải cách hành chính, Nhà nước tiến hành cải cách lĩnh vực sự nghiệp công. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động sự nghiệp công, khắc phục tình trạng hành chính hóa, đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động sự nghiệp công, cần phải thay đổi cách tuyển dụng, cơ chế, chế độ, chính sách đối với viên chức nhà nước; không áp dụng cách thức tuyển dụng vào làm việc suốt đời mà theo chế độ hợp đồng; tạo quyền chủ động cho các đơn vị sự nghiệp công và qua đó đòi hỏi viên chức nhà nước phải không ngừng phấn đấu, rèn luyện và học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình. Nếu người viên chức không đáp ứng được yêu cầu, cũng như căn cứ vào nhu cầu, khả năng của hai bên thì hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc của họ có thể bị chấm dứt bất kỳ lúc nào. Việc kí hợp đồng làm việc căn cứ vào nhu cầu và viên chức sẽ được tuyển dụng theo vị trí việc làm.
Vị trí việc làm được hiểu là “công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lí tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lí viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập” (Điều 7 Luật Viên chức 2012). Vị trí việc làm có thể có một hoặc nhiều công việc, có tính thường xuyên, liên tục chứ không bao gồm những công việc thời vụ, tạm thời. Để được tuyển dụng vào vị trí việc làm thì phải thông qua một trong hai phương thức tuyển dụng: thi tuyển hoặc xét tuyển. Và việc tuyển 11 Luan van dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập” (Điều 20 Luật Viên chức 2012).
Bốn là, viên chức hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật khác với cán bộ, công chức lương hưởng từ ngân sách của Nhà nước. Do vậy, tiền lương mà viên chức nhận được phụ thuộc vào sự thỏa thuận của viên chức và bên tuyển dụng và khoản thu của của đơn vị sự nghiệp công lập. Nếu viên chức có trình độ cao và đơn vị sự nghiệp công việc có nguồn thu cao hơn nguồn chi thì lương và thu nhập tăng thêm của viên chức sẽ cao và ngược lại. Hiện nay, lương của viên chức vẫn tính theo bảng lương về ngạch, bậc do Nhà nước ban hành.
Tuy nhiên căn cứ vào nguồn thu thì các đơn vị sự nghiệp công lập có thể chi trả thu nhập tăng thêm hoặc thưởng nhân dịp lễ, tết. Như vậy, đồng thời với việc Luật Cán bộ, công chức phân định “cán bộ” và công chức, Luật Viên chức cũng đã làm rõ được khái niệm viên chức, phân biệt viên chức với cán bộ và công chức. Quản lý viên chức ngành giáo dục Để làm rõ thuật ngữ quản lý viên chức ngành giáo dục, trước hết phải xem xét cụm từ “viên chức ngành giáo dục”. Lao động của viên chức không mang tính quyền lực công, chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn, nghiệp vụ.
Luật Viên chức đã quy định: “Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật về viên chức và các văn bản có liên quan”. Nghề nghiệp là chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo để người viên chức kiếm sống và sinh nhai. Chức nghiệp hay chức vụ nghề nghiệp được hiểu là ngạch, bậc chuyên môn nghiệp vụ được phân loại, xếp hạng trên 12 Luan van cơ sở trình độ chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo, kinh nghiệm và năng lực thực tiễn của viên chức. Tính chuyên môn nghề nghiệp là đặc điểm chung của lao động và hoạt động của viên chức.
Nghề nghiệp là công việc chuyên môn, nghiệp vụ để người viên chức kiếm sống và sinh nhai. Mỗi viên chức làm việc trong các ngành, nghề lĩnh vực sự nghiệp công khác nhau đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ nghề nghiệp tương ứng. Không có chuyên môn nghiệp vụ chung cho tất cả các ngành, nghề, lĩnh vực sự nghiệp công. Tính chuyên nghiệp, chuyên môn hóa cao là đặc điểm, là yêu cầu trong hoạt động của viên chức sự nghiệp.
Sự chuyên môn hóa các hoạt động của con người đã làm xuất hiện các ngành trong đời sống xã hội. Nền kinh tế quốc dân của bất kỳ quốc gia nào cũng được chia thành các ngành để quản lý. Sự phân chia các mặt hoạt động xã hội thành ngành là kết quả phân công lao động xã hội xảy ra đồng thời với quá trình phát triển sản xuất và chuyên môn hóa các hoạt động khác nhau của con người. Cũng từ sự phân công lao động trong xã hội dẫn đến quy định sự phân công lao động trong quản lý.
Từ phân tích trên có thể hiểu: viên chức ngành giáo dục là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập và thực hiện các chức trách, nhiệm vụ theo quy định pháp luật. Căn cứ vào yếu tố chuyên môn, xác định đối tượng được coi là viên chức ngành giáo dục tương đối rộng khi bao gồm cả những người làm công tác giảng dạy lẫn các hoạt động khác phục vụ hoạt động giảng dạy trong các đơn vị sự nghiệp công lập ví dụ như viên chức hành chính, tổng hợp, nhân sự. Để làm rõ hơn nội hàm cụm từ quản lý viên chức ngành giáo dục, cần xác định rõ thuật ngữ quản lý. 13 Luan van Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu.
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên.