Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của thực hiện pháp luật về giáo dục phổ thông Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về giáo dục phổ thông của Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh Chương 3: Định hướng và giải pháp thực hiện pháp luật về giáo dục phổ thông của Ủy ban nhân dân quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh 9 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Thực hiện pháp luật Thực hiện đúng đắn và nghiêm chỉnh pháp luật là một yêu cầu khách quan của quản lý Nhà nước và xã hội bằng pháp luật. Pháp luật được ban hành nhiều nhưng ít đi vào cuộc sống thì điều đó chứng tỏ công tác quản lý Nhà nước kém hiệu quả.
Chính vì vậy, xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai hoạt động có quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhà nước sử dụng pháp luật như là phương tiện để thực hiện sự quản lý đối với xã hội, muốn đạt được mục đích này, pháp luật phải đi vào thực tiễn dưới dạng hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Theo tài liệu học tập và nghiên cứu môn học Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Viện Nhà nước và Pháp luật - Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thì: “Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật” [37, tr. Theo Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật” [27, tr.
Xét dưới góc độ luật học thì thực hiện pháp luật là hành vi phù hợp với các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật, mang lại và đáp ứng lợi ích của 10 Nhà nước, của xã hội và của mỗi công dân. Hành vi đó có thể được thực hiện phụ thuộc vào ý chí của mỗi cá nhân, nhưng cũng có thể chỉ phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước. Đồng thời, nó có thể được thực hiện xuất phát từ sự nhận thức sâu sắc và tự giác của chủ thể, bên cạnh đó cũng có thể do kết quả của việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc tâm lý sự bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế mà chủ thể phải thực hiện pháp luật. Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích mà các chủ thể pháp luật bằng hành vi của mình thực hiện các qui định pháp luật trong thực tế đời sống.
Thực hiện pháp luật cũng có thể được hiểu là hành vi của chủ thể (hành động hoặc không hành động) được tiến hành phù hợp với quy định, với yêu cầu của pháp luật, tức là không trái, không vượt quá khuôn khổ mà pháp luật đã quy định. Thực hiện pháp luật có thể là một xử sự có tính chủ động, được tiến hành bằng một thao tác nhất định nhưng đó cũng có thể là một xử sự có tính thụ động, tức là không tiến hành vượt xử sự bị pháp luật cấm. Như vậy, có thể hiểu thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích nhằm làm cho các nguyên tắc, quy định của pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Theo Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật thì có bốn hình thức thực hiện pháp luật, bao gồm [27] [28]: - Tuân thủ pháp luật; - Thi hành pháp luật; - Sử dụng pháp luật; - Áp dụng pháp luật.
Trong đó: 11 Tuân thủ pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật không thực hiện các hành vi xử sự mà pháp luật cấm. Thi hành pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật chủ động thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật quy định. Sử dụng pháp luật là việc các chủ thể thực hiện pháp luật thực hiện các quyền của mình do pháp luật quy định. Áp dụng pháp luật là việc các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định.
Giáo dục phổ thông Giáo dục là một lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội với vai trò trang bị những kiến năng, kiến thức cho học sinh, sinh viên, đồng thời phục vụ cho sự phát triển các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội. Theo tinh thần của Giáo sư Hồ Trọng Đại thì Giáo dục là một quá trình mà trong đó kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của một người hay một nhóm người này được truyền tải một cách tự nhiên mà không hề áp đặt sang một người hay một nhóm người khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu để từ đó tìm ra, khuyến khích, định hướng và hỗ trợ mỗi cá nhân phát huy tối đa được ưu điểm và sở thích của bản thân khiến họ trở thành chính mình, qua đó đóng góp được tối đa năng lực cho xã hội trong khi vẫn thỏa mãn được quan điểm, sở thích và thế mạnh của bản thân. Giáo dục cũng có thể được tiếp cận với tư cách là một lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội cùng với y tế, văn hoá, thể thao, … Giáo dục phổ thông là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, với những mục tiêu nhất định. Hiện nay có nhiều cách tiếp cận về giáo dục phổ thông 12 Theo Luật Giáo dục thì Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm [23], [24]: - Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo; - Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; - Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề; - Giáo dục đại học và sau đại học (gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.
Như vậy, giáo dục phổ thông là một bộ phận cấu thành trong hệ thống giáo dục quốc dân. Thuật ngữ “Giáo dục phổ thông” là thuật ngữ mang nội hàm rộng bao gồm cả giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở (giai đoạn giáo dục cơ bản) và giáo dục trung học phổ thông (giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp). Cần phân biệt rõ thuật ngữ giáo dục phổ thông và giáo dục trung học phổ thông. Thuật ngữ Giáo dục phổ thông được đề cập trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, tuy nhiên lại không đưa ra định nghĩa chính thức về thuật ngữ hay.
Các văn bản quy phạm pháp luật trong thời gian qua khi đề cập về thuật ngữ giáo dục phổ thông thì không đưa ra định nghĩa mà lại chỉ ra các bộ phận cấu thành của giáo dục phổ thông. Cụ thể thuật ngữ giáo dục phổ thông lần đầu tiên được quy định tại Luật Giáo dục năm 1998, theo đó: Giáo dục phổ thông gồm [23]: “1. Giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ sáu đến mười bốn tuổi; được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi; 2.
Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải có bằng tốt nghiệp tiểu học, 13 có tuổi là mười một tuổi; 3. Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai. Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi”.
Đến luật Giáo dục năm 2005 thì thuật ngữ Giáo dục phổ thông cũng chưa được cụ thể hoá mà chỉ ra các bộ phận cấu thành này. Cụ thể tại Điều 26 Luật Giáo dục năm 2005 thì [24] “Giáo dục phổ thông bao gồm: - Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi; - Giáo dục trung học cơ sở được thực hiện trong bốn năm học, từ lớp sáu đến lớp chín. Học sinh vào học lớp sáu phải hoàn thành chương trình tiểu học, có tuổi là mười một tuổi; - Giáo dục trung học phổ thông được thực hiện trong ba năm học, từ lớp mười đến lớp mười hai.
Học sinh vào học lớp mười phải có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, có tuổi là mười lăm tuổi” Trong phạm vi của luận văn thì chỉ tiếp cận giáo dục phổ thông bao gồm giáo dục tiểu học và giáo dục trung học. Theo đó giáo dục phổ thông là một bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở với mục đích giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Như vậy, giáo dục phổ thông theo cách hiểu và tiếp cận của luận văn là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm giáo dục tiểu học và 14 giáo dục trung học cơ sở có nhiệm vụ bồi dưỡng, trang bị những kiến thức cơ bản, nền tảng cho học sinh. Hiện nay có nhiều cách phân loại khác nhau về giáo dục phổ thông, mỗi cách phân loại đều dựa trên những tiêu chí khác nhau và đều hướng đến những mục đích khác nhau.
Phân loại giáo dục phổ thông từ góc độ chủ thể cung ứng thì có thể chia thành giáo dục phổ thông công lập và giáo dục phổ thông ngoài công lập ngoài công lập (GDPT tư thục) Giáo dục phổ thông công lập là loại hình GDPT do các đơn vị sự nghiệp công lập đứng ra cung cấp. Hiện nay đây vẫn là loại hình GDPT chủ yếu ở Việt Nam. Giáo dục phổ thông ngoài công lập là loại hình GDPT do các chủ thể tư nhân đứng ra cung cấp.