Mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội Kết luận và khuyến nghị 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới HTTC với tính ưu việt vượt trội được khai sinh tại ĐH Havard vào năm 1869 và sau đó nhanh chóng được nhiều trường ĐH trên thế giới áp dụng. Cùng với sự phát triển đó, nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuốn sách về HTTC và QLĐT theo HTTC đã được công bố và xuất bản.
Có tài liệu trình bày tổng quan đầy đủ về HTTC với những khái niệm, quá trình triển khai ĐT, các ưu nhược điểm, những điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự chuyển đổi thành công và khả năng áp dụng trong các nước đang phát triển, một số bài học rút ra từ kinh nghiệm của Mỹ và thế giới về HTTC (tài liệu “The Academic Credit System” của tác giả James Quann, hay tài liệu “The Credibility of the Credit Hour: The History, Use and Shortcomings of the Credits System” của tác giả H.Có tài liệu trình bày và phân tích các vấn đề về xây dựng CT, CT môn học theo quan điểm lấy người học làm trung tâm; quan hệ giữa mục tiêu, môn học, CT và giảng dạy; thực thi, đánh giá và cải tiến CT GD và CT môn học (“Xây dựng và đánh giá môn học và CT học” (1998) của tác giả Robert M.Có công trình nghiên cứu về các cơ sở xây dựng CT cùng hệ thống lý luận về CT, phát triển CT GD, các chính sách và khuynh hướng phát triển CT (“Chương trình: những cơ sở, nguyên tắc và chính sách xây dựng” năm 1998 của tác giả Allan C.Ornstein và Francis P.Hunkins; tài liệu “Chương trình: các phương pháp tiếp cận và vấn đề đang tiếp diễn” năm 2003 của tác giả Collin J.Marsh và George Willis). Bên cạnh đó trên thế giới cũng còn rất nhiều công trình, tài liệu nghiên cứu về ĐTTC có giá trị học tập và áp dụng rất lớn cho các nhà nghiên cứu, nhà QLGD của Việt Nam. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, QLĐT theo HTTC là một vấn đề lớn của GDĐH. Vấn đề này đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhà QLGD quan tâm.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bộ GD và ĐT đã cho xuất bản cuốn “Về hệ thống tín chỉ học tập” năm 1994 với những kiến thức rất cơ bản và các kinh nghiệm QLĐT theo TC của một số nước. Bộ cũng đã ban hành nhiều quyết định về ĐTTC: Quyết định số 43/2007/QĐ- BGDĐT ngày 15/8/2007 ban hành Quy chế ĐTĐH và cao đẳng hệ chính quy theo HTTC; thông tư 57/2012/TT-BGDĐT ngày 27 tháng 12 năm 2012 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế ĐTĐH và cao đẳng hệ chính quy theo HTTC ban hành kèm theo quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT đã giúp các trường định hướng áp dụng HC này. Bộ GD và ĐT và một số trường ĐH đã tổ chức rất nhiều các hội thảo lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia về vấn đề này. Nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, sách của các tác giả thể hiện sự dày công nghiên cứu về ĐTTC.
Các tài liệu hướng dẫn việc cấu trúc lại CTĐT để chuyển từ ĐT NC sang CTĐT theo TC ở các trường ĐH, xây dựng các tiêu chí đánh giá, quy trình đánh giá CTĐT; phân tích các đặc điểm của HC TC và yêu cầu đối với việc cấu trúc nội dung, phân bổ thời lượng CTĐT cho phù hợp (Tập bài giảng dành cho học viên cao học “CTĐT và phát triển CTĐT” năm 2007 của tác giả Nguyễn Đức Chính, bài viết “Cấu trúc lại CTĐT để chuyển từ ĐT NC sang CTĐT theo TC ở các trường ĐH hiện nay” của tác giả Ngô Doãn Đãi…). Khá nhiều luận văn, luận án đề cập đến các khái niệm cơ bản cũng như phản ánh được thực trạng và đề xuất được các giải pháp/biện pháp nhằm thực hiện có hiệu quả việc QL ĐT theo TC ở một số trường ĐH (Luận án tiến sĩ “QL xây dựng và đánh giá CT môn học trình độ ĐH trong HC TC” của tác giả Trần Hữu Hoàn năm 2011; luận văn "Một số giải pháp quản lý ĐT theo HTTC ở trường ĐH Trần Đại Nghĩa" năm 2011 của tác giả Trương Thúy Hằng, “Biện pháp QL hoạt động ĐT tại trường ĐH thủy lợi theo HTTC” năm 2013 của tác giả Nguyễn Phương Thúy…) “Quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội” là luận văn thạc sỹ QLGD đầu tiên lấy quá trình ĐT theo TC ở Trường ĐH TNMT HN làm khách thể nghiên cứu, trên cơ sở khảo sát nghiên cứu thực trạng, luận văn đã đề xuất được một số biện pháp cho QLĐT theo TC của trường. Các khái niệm cơ bản liên quan đề tài nghiên cứu 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý đào tạo, biện pháp quản lý 1.
Quản lý Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ: quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội… và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo. Điều này làm nảy sinh nhu cầu về QL, “QL cũng xưa cũ như chính con người vậy”[14, tr. Để khẳng định vai trò của QL, C.Mác đã chỉ ra: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên một quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến QL”, “Một nghệ sĩ chơi đàn thì tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc thì cần phải có người chỉ huy, người nhạc trưởng”[3, tr. Trải qua tiến trình lịch sử phát triển từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh, QL cũng phát triển theo và trở thành một khoa học độc lập có đối tượng nghiên cứu riêng, có phương pháp nghiên cứu và có hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật… Mặc dù là ngành khoa học còn khá non trẻ với lịch sử phát triển hơn một trăm năm, nhưng những thành tựu mà khoa học QL đã đạt được lại luôn có giá trị vô cùng to lớn trong mọi mặt của đời sống xã hội.
Ngày nay thuật ngữ QL trở nên phổ biến và có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau. Mary Parker Follett cho rằng: “QL là nghệ thuật đạt được mục đích thông qua nỗ lực của người khác” [8, tr. Định nghĩa này nói lên rằng những nhà QL đạt được các mục tiêu, mục đích của tổ chức bằng cách sắp xếp, giao việc cho những người khác thực hiện chứ không phải trực tiếp hoàn thành công việc. “QL là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra” [8, tr.3] được coi là một định nghĩa giải thích tương đối rõ nét về QL của James Stoner và Stephen Robbín.
Đặng Quốc Bảo cho rằng: “QL là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu chung”.17] Theo tác giả Trần Kiểm: “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích với hiệu quả cao nhất và QL một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể người – thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến”.5] Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã viết: “ QL là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Dù được định nghĩa theo các cách khác nhau nhưng nhìn chung lại thì QL bao gồm các thành tố sau: Chủ thể QL: Là cá nhân hoặc tập thể, đứng đầu tổ chức và tạo ra các tác động QL. Đối tượng QL: Là toàn thể thành viên của tổ chức, toàn bộ nguồn lực của tổ chức (nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực, môi trường…) tiếp nhận các tác động QL. Ngày nay đối tượng QL đã mang tính chủ động hơn, không phải chỉ tiếp nhận một chiều các tác động QL.
Quan hệ giữa chủ thể và đối tượng QL là quan hệ tác động qua lại, tương hỗ, đối tượng QL có sự phản hồi trở lại với chủ thể QL. Mục tiêu QL: Mục tiêu QL của tổ chức là căn cứ để chủ thể QL tạo ra các tác động QL. Công cụ QL: Là các căn cứ pháp lý để chủ thể QL tạo ra các tác động lên đối tượng QL, bao gồm hệ thống các văn bản, hệ thống thông tin, quyết định QL, … Phương pháp QL: Là cách thức chủ thể QL chuyển tải các tác động tới đối tượng QL. Hiện nay có ba phương pháp chính là phương pháp hành chính – tổ chức, phương pháp kinh tế và phương pháp tâm lý – xã hội.
Từ những định nghĩa và sự phân tích trên có thể hiểu một cách cơ bản về QL như sau: QL là quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL lên đối tượng QL nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Quản lý giáo dục GD là hoạt động đặc trưng của xã hội loài người nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong xu thế vận động và phát triển của xã hội, nhân tố “GD” trong đời sống của mỗi quốc gia và trên quy mô toàn cầu được coi là đồng nghĩa với sự phát triển. Cũng như khái niệm QL, QLGDđược hiểu theo nhiều cách khác nhau.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Bush T. (trong tác phẩm Theories of Education Management, PCP, London, 1995): “QLGD, một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể QLGD tới đối tượng QLGD theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra”.