Chương 1 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề: 1. Trên thế giới Từ nhiều thập kỷ nay, thế giới đã và đang trong tiến trình tìm tiếng nói chung ở các chương trình học - nơi sinh viên có thể chuyển đổi từ hệ thống giáo dục này sang hệ thống giáo dục khác mà không gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, các nhà quản lý giáo dục, nhà khoa học, chuyên môn và quản lý nhà nước đang cố gắng lập ra một không gian giáo dục thống nhất để sinh viên có thể phát huy được năng lực học tập một cách chủ động và hiệu quả nhất.
Với mục đích đó, vào năm 1872, Viện Đại học Harvard đã đề xuất ý tưởng thay thế hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm dẻo được cấu thành bởi các môđun mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn một cách linh hoạt. Đây có thể coi là điểm mốc khai sinh học chế tín chỉ. Cùng với sự phát triển của phương thức đào tạo này, nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố, nhiều cuốn sách về đào tạo theo tín chỉ đã được xuất bản. Nổi bật là các tác giả như C.James Quann, Arthur Levin, Heffernan James … Trong tài liệu "The Acedemic Credit System (về hệ thống tín chỉ học tập) [3], C.James Quann đã đưa ra các định nghĩa về tín chỉ, giờ tín chỉ, chuyển đổi giờ tín chỉ… các định nghĩa chuẩn xác này góp phần quan trọng tạo nên sự thống nhất về các khái niệm trong toàn hệ thống.
Trong cuốn "The Credit and degree" (tín chỉ và văn bằng), Arthur Levin khẳng định có thể tham khảo mô hình của Mỹ về đào tạo tín chỉ bởi "Trừ trường hợp ngoại lệ, hiện nay mọi chương trình ĐH dẫn đến văn bằng ở Mỹ được dựa trên hệ thống tín chỉ…" [3, tr.79] Đến đầu thế kỷ 20, học chế tín chỉ được sự hưởng ứng rộng khắp trong các trường Đại học ở Bắc Mỹ. Tiếp đó, nhiều nước như Anh, Nhật 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bản, Philippin, Hàn Quốc, Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan… đã áp dụng triết lý của hệ thống đào tạo này trong toàn bộ hoặc bộ phận các trường đại học của mình. Vào năm 1999, các nước trong liên minh Châu Âu đã ký Tuyên ngôn Boglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục Đại học Châu Âu thống nhất vào năm 2010. Một trong những nội dung quan trọng của Tuyên ngôn này đó là áp dụng hệ thống tín chỉ trong GDĐH nhằm liên thông hoạt động học tập của sinh viên trong khu vực Châu Âu và trên thế giới.
Hiện nay, hệ thống tín chỉ đã không còn mới mẻ với nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, các nhà khoa học giáo dục vẫn không ngừng nghiên cứu về nó nhằm ngày càng cải thiện chất lượng giáo dục cũng như cách thức quản lý để phát huy các mặt tích tích của quá trình đào tạo và phù hợp với sự phát triển của xã hội. Ở Việt Nam Việc triển khai đào tạo theo HCTC trong các trường Đại học là một vấn đề đã được đề cập cách đây trên 20 năm nhưng công tác triển khai gặp nhiều khó khăn và lúng túng. Từ năm 1988, một số trường Đại học đã kết hợp mềm dẻo niên chế với học phần.
Giai đoạn 1993- 1998, các nhà quản lý giáo dục đã có nhiều bài nghiên cứu về quản lý quá trình giáo dục khi chuyển đổi sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Điển hình là cuốn "Về hệ thống tín chỉ học tập" [3] của Vụ Giáo dục Đại học- Bộ GD&ĐT, xuất bản năm 1994. Đây là tài liệu có giá trị với những kiến thức cơ bản kèm theo nhiều tài liệu tham khảo thực sự cần thiết với các trường Đại học ở Việt Nam khi chuyển đổi từ niên chế sang học chế tín chỉ và các kinh nghiệm quản lý đào tạo theo tín chỉ ở một số nước. Nhiều hội thảo, diễn đàn khoa học đã được tổ chức, đi sâu phân tích các yếu tố quan trọng để thực hiện thành công HCTC.
Phân tích cơ hội và thách thức của hệ thống chuyển đổi từ niên chế sang HCTC. Hai tác giả Eli Mazur và Phạm Thị Ly đề cập đến vai trò của hệ thống tín chỉ của Mỹ trong GDĐH 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việt Nam và kinh nghiệm của Trung Quốc trong việc chuyển đổi sang hệ thống tín chỉ [18]. Các bài học kinh nghiệm thực tiễn của các trường đã và đang chuyển đổi sang đào tạo theo học chế tín chỉ cũng được chia sẻ tại hội thảo như Trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Đà Lạt, Đại học Phương Đông, Đại học Cần Thơ…Các hội thảo thu hút sự tham gia của nhiều nhà quản lý và giảng viên với nhiều bài tham luận, báo cáo có giá trị thực tiễn cao. Để có những quy định chung làm cơ sở để các trường Đại học, cao đẳng chuyển đổi sang phương thức đào tạo theo HCTC, Bộ GD&ĐT đã nghiên cứu và đưa ra các quy chế đào tạo.
Cụ thể: - Quy chế 25/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 26/06/2006 hướng dẫn quản lý đào tạo trong giai đoạn chuyển đổi dần sang HCTC. Quy chế này khác so với Quy chế 04/1999/QĐ-BGD&ĐT về thời gian đào tạo, điều kiện được học tiếp, tạm ngừng, buộc thôi học, đánh giá học phần, thi tốt nghiệp… Các điều chỉnh này theo hướng chuyển đổi từng bước quá trình đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo HCTC [6]. - Quy chế 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/08/2007 về đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ. Quy chế này đã đưa ra những quy định về đào tạo theo hệ thống tín chỉ, bao gồm: Tổ chức đào tạo; kiểm tra và thi học phần; xét và công nhận tốt nghiệp [7].
- Thông tư 57/2012/TT-BGD&ĐT ngày 27/12/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 15/08/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Thông tư sửa đổi và làm rõ hơn những vấn đề liên quan đến đào tạo theo tín chỉ [9]. - Một số công trình nghiên cứu về HCTC của một số nhà khoa học giáo dục Việt Nam như tác giả Lâm Quang Thiệp nghiên cứu các ưu nhược điểm, điều kiện triển khai đào tạo theo HCTC ở nước ta [25, 26]; Tác giả Đặng Xuân 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hải nghiên cứu kỹ thuật dạy học trong đào tạo theo học chế tín chỉ [17]; Tác giả Nguyễn Đức Chính xây dựng quy trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo yêu cầu của HCTC, đồng thời nghiên cứu những điểm cần chú ý khi triển khai một quá trình dạy học nói chung và học chế tín chỉ nói riêng như khâu phân tích nhu cầu người học và khâu đánh giá cải tiến của các nhà quản lý và của giảng viên [12]; Tác giả Lê Viết Khuyến đã có những công trình nghiên cứu về quá trình triển khai HCTC. Các yêu cầu triển khai và mức độ phù hợp của từng yêu cầu đó đối với thực trạng giáo dục của Việt Nam hiện nay [20]. Ngoài ra, có nhiều bài báo về đào tạo theo HCTC ở các góc độ khác nhau được đăng trên các tạp chí thuộc chuyên ngành giáo dục, trên mạng Internet… Ở Việt Nam, Trường Đại học Bách khoa TP.
Hồ Chí Minh là nơi đầu tiên áp dụng hệ thống tín chỉ từ năm 1993, sau đó là các trường Đại học Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thuỷ sản Nha Trang, và một số trường đại học khác áp dụng từ năm 1994 và các năm sau đó. Theo chủ trương của Bộ GD&ĐT từ năm 2010 đã triển khai đại trà đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở tất cả các trường đại học trong toàn quốc. Tóm lại, khi tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về HCTC, ở Việt Nam hiện nay không có nhiều các cuốn sách nghiên cứu cơ sở lý luận về phương thức đào tạo theo tín chỉ và cách thức quản lý quá trình đào tạo này. Hệ thống tín chỉ của một số nước và các bài học kinh nghiệm chủ yếu được các tác giả trong nước tìm hiểu, phân tích riêng lẻ hoặc biên dịch từ tài liệu nước ngoài.
Một số khái niệm cơ bản 1. Đào tạo Đào tạo là một hoạt động, một dạng công việc của xã hội nhằm rèn luyện kinh nghiệm hoạt động cho thế hệ trẻ. Theo Từ điển bách khoa toàn thư, đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người [30] Đào tạo luôn được xác định về phạm vi, cấp độ, cấu trúc và những hạn định cụ thể về thời gian, không gian, nội dung và tính chất. Vì lẽ đó, đào tạo là cơ cấu, là quá trình quyết định làm cho giáo dục có tính chất tổ chức, kế hoạch, hướng đích và điều khiển được.
Đào tạo không chỉ là chức năng quan trọng mà còn là một thuộc tính cơ bản của giáo dục, là hình thức thực thể của giáo dục. Theo quan điểm phổ biến hiện nay, đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ phẩm chất đạo đức cho học sinh, sinh viên, giúp người học trở thành người lao động có kiến thức, có kỹ thuật, có tay nghề. Qúa trình đào tạo diễn ra theo kế hoạch, với các cơ sở đào tạo, với các đội ngũ giáo viên giảng dạy là các nhà giáo được đào tạo chuyên nghiệp. Quản lý hoạt động đào tạo Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra.
Sự tác động của quản lý, phải bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội. Theo Giáo trình Đại cương khoa học Quản lý, quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [21, tr.