Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý đào tạo theo phương thức tín chỉ Chương 2: Thực trạng đào tạo và công tác quản lý đào tạo theo phương thức tín chỉ tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Chương 3: Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo theo phương thức tín chỉ ngành Kiến trúc công trình tại Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO PHƢƠNG THỨC TÍN CHỈ 1.Tổng quan những công trình nghiên cứu về quản lý đào tạo trong học chế tín chỉ Học chế tín chỉ được áp dụng đầu tiên lại đại học Havard vào năm 1872, sau đó được áp dụng và phát triển nhanh chóng ở nhiều nước trên thế giới. Cùng với sự phát triển của phương thức đào tạo này, rất nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố, nhiều cuốn sách về hệ thống tín chỉ và cách thức quản lý đào tạo theo hệ thống này đã được xuất bản.James Quann của ĐH Quốc gia Washington đã định nghĩa các khái niệm Tín chỉ, Giờ tín chỉ, Chuyển đổi giờ tín chỉ.
trong tài liệu “The Academic Credit System” (về hệ thống tín chỉ học tập). Các định nghĩa này của Quann được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu của các tác giả Việt Nam hiện nay. Tài liệu “The Credibility of the Credit Hour: The History, Use and Shortcomings of the Credits System”, tác giả H.James đã trình bày tổng quan về hệ thống tín chỉ với những khái niệm, quá trình triển khai đào tạo, các ưu nhược điểm của hệ thống, những điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho sự chuyển đổi thành công và khả năng áp dụng hệ thống trong các nước đang phát triển, một số bài học rút ra từ kinh nghiệm của Mỹ và thế giới về hệ thống tín chỉ. Được nhiều nước quan tâm và áp dụng, học chế tín chỉ đã được nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau: Năm 1998, tác giả Robert M.Diamond đã trình bày và phân tích các vấn đề về xây dựng chương trình, chương trình môn học theo quan điểm lấy người 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học làm trung tâm; quan hệ giữa mục tiêu, môn học, chương trình và giảng dạy; thực thi, đánh giá và cải tiến chương trình giáo dục và chương trình môn học trong tài liệu “Xây dựng và đánh giá môn học và chương trình học”.
Các tài liệu “Chương trình: những cơ sở, nguyên tắc và chính sách xây dựng” của Allan C.Ornstein và Francis P.Hunkins (1998); “Chương trình: các phương pháp tiếp cận và vấn đề đang tiếp diễn” của Collin J.Marsh và George Willis (2003); “Thiết kế môn học trong giáo dục đại học”, các tác giả đã tổng thuật khá toàn diện về: Các cơ sở xây dựng chương trình cùng hệ thống lý luận về chương trình; Phát triển chương trình giáo dục; Các chính sách và khuynh hướng phát triển chương trình. Ở Việt Nam, triển khai đào tạo theo HTTC trong các trường ĐH là một vấn đề đã được đề cập cách đây trên 20 năm nhưng gặp rất nhiều lúng túng trong cả khâu quản lý và triển khai. Gần đây vấn đề về quản lý đào tạo theo HTTC và quá trình chuyển đổi sang học chế này được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Bộ Giáo dục & Đào tạo đã xuất bản cuốn “Về hệ thống tín chỉ học tập” năm 1994 [6] trên cơ sở tuyển dịch bốn tài liệu nước ngoài về HTTC với những kiến thức rất cơ bản và các kinh nghiệm quản lý đào tạo theo tín chỉ của một số nước.
Bộ và một số trường ĐH đã tổ chức rất nhiều các hội thảo lấy ý kiến đóng góp của các chuyên gia giáo dục về vấn đề này. Nghiên cứu về qui trình KT-ĐG kết quả học tập theo yêu cầu của HTTC, tác giả Nguyễn Đức Chính đã xây dựng được qui trình KT-ĐG, nghiên cứu những điểm cần chú ý khi triển khai một quá trình dạy học nói chung và HTTC nói riêng như khâu phân tích nhu cầu người học và khâu đánh giá cải tiến của cá nhà quản lý và của giảng viên. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những nghiên cứu về Qui trình triển khai đào tạo theo HTTC, cơ cấu lại CTĐT để chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ ở các trường đại học hiện nay ở Việt Nam đã được tác giả Ngô Doãn Đãi trình bày trong báo cáo về HTTC của Ban đào tạo, ĐH Quốc gia Hà Nội [16]. Các nghiên cứu về “Chương trình đào tạo, Chương trình môn học” như: “Chương trình đào tạo và phát triển chương trình đào tạo” – tác giả Nguyễn Đức Chính (2007); tác giả Ngô Doãn Đãi với bài viết “Cấu trúc lại chương trình đào tạo để chuyển từ đào tạo niên chế sang chương trình đào tạo theo tín chỉ ở các trường đại học hiện nay”; tác giả Trần Khánh Đức với bài viết “Phát triển và đánh giá chương trình đào tạo giáo viên trong nền giáo dục hiện đại”.
Các công trình và bài viết đã đề cập đến các tiêu chí đánh giá, qui trình đánh giá chương trình đào tạo; đã phân tích đặc điểm của học chế tín chỉ và các yêu cầu đối với việc cấu trúc nội dung, phân bổ thời lượng chương trình đào tạo cho phù hợp. Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu đánh giá thẩm định chương trình giáo dục đại học” – tác giả Trần Thị Hoài đã đề xuất các tiêu chí đánh giá thẩm định chương trình giáo dục đại học. Luận án tiến sĩ “Quản lý xây dựng và đánh giá chương trình môn học trình độ đại học trong học chế tín chỉ” – tác giả Trần Hữu Hoan đã đề xuất cấu trúc và nội dung CTMH theo triết lý mô hình CDIO. Nghiên cứu về KT-ĐG trong học chế tín chỉ như: Luận án tiến sĩ “Nghiên cứu quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học ở Việt Nam ” của tác giả Cấn Thị Thanh Hương, 2011.
Tác giả luận án đã đề xuất 3 nhóm gồm 9 giải pháp quản lý KT-ĐG kết quả học tập của người học trong giáo dục đại học ở Việt Nam. Nghiên cứu về phương pháp giảng dạy trong học chế tín chỉ như: “Quản lý quá trình dạy và học theo học chế tín chỉ trong các trường đại học ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” – Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Mai 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tác giả đã đề xuất năm biện pháp quản lý quá trình dạy học theo HTTC trong các trường ĐH ở Việt Nam hiện nay. Tóm lại, các tài liệu nghiên cứu về HTTC hiện nay, hệ thống tín chỉ của một số nước và các bài học kinh nghiệm được các tác giả trong nước tìm hiểu và phân tích riêng lẻ hoặc biên dịch từ tài liệu nước ngoài.Cơ sở lý luận về đào tạo và quản lý đào tạo.Đào tạo Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người.
Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục nhân cách”.Quản lý Theo tác giả Ngô Trung Việt, từ quản lý (management) bắt nguồn từ chứ Latinh “manus” nghĩa là bàn tay. Theo nghĩa gốc, thực hiện quản lý là “nắm vững trong tay”, “điều khiển vững tay”. Theo một nghĩa nào đó, quản lý là một nghệ thuật khiến người khác phải làm việc. Tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau mà ta có các quan điểm khác nhau về quản lý.
Thông thường, khi đưa ra khái niệm quản lý các tác giả thường gắn với một loại hình cụ thể: F.W Taylor (1856 – 1915) là cha đẻ của thuyết quản lý khoa học định nghĩa: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Fayols (1841 – 1925) đã xuất phát từ nghiên cứu các loại hình hoạt động quản lý và phân biệt thành 5 chức năng cơ bản: “kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Sau này được kết hợp thành bốn chức năng cơ bản của quản lý: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Fayol còn chứng minh được rằng khoa học quản lý – “quản lý hành chính”, không những cần thiết cho các tổ chức công nghiệp và hãng kinh doanh mà còn có thể áp dụng với mọi loại hình tổ chức, kể cả cơ quan của Chính phủ vì quản lý ở một tổ chức đều có chung những chức năng trên.Follet (1868-1933) cho rằng trong công việc quản lý cần chú trọng tới những người lao động với toàn bộ đời sống của họ, cả yếu tố kinh tế lẫn yếu tố tinh thần và tình cảm.
Theo Bà “Quản lý là nghệ thuật khiến cho công việc được thực hiện thông qua người khác”. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là họt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội”. Tác giả Trần Khánh Dức khái quát quản lý “là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất”. Theo các tác giả, quản lý là một hoạt động vừa khó khăn vừa phức tạp lại có ý nghĩa trong sự phát triển hay trì trệ của mọi tổ chức.
Quản lý đúng đắn sẽ giúp cho các tổ chức hạn chế các nhược điểm, liên kết gắn bó mọi người trong tổ chức, tạo niềm tin, sức mạnh và truyền thống của tổ chức.Hệ thống chức năng quản lý Với vai trò là yếu tố quan trọng không thể thiếu trong việc duy trì và phát triển tổ chức, quản lý có bốn chức năng: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo – lãnh đạo và kiểm tra. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kế hoạch hoá là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng của quản lý. Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Tổ chức là quá trình phân công và phối hợp các nhiệm vụ và nguồn lực để đạt được các mục tiêu đã vạch ra.