Đặt vấn đề: Từ tháng 5/2012 đến nay, trên địa bàn các quận, huyện Bình Thủy, Cái Răng, Phong Điền, Ninh Kiều, Ki ốt Thốt Nốt liên tiếp xảy ra sự cố nứt, lở bờ sông gây thiệt hại. Tại khu vực Thới Thạnh 2, phường Thới Thuận, quận Thốt Nốt (bờ kênh Bò Ót) từ cầu Bò Ót trở ra sông Hậu), bờ sông có dấu hiệu sạt lở với một đoạn dài 165 mét.1 Sạt lở bờ rạch Cam quận Bình Thủy - Cần Thơ Để khắc phục hiện tượng sạt lở, có nhiều giải pháp tường chắn đã được thực hiện như: tường chắn bêtông cốt thép, tường bêtông trọng lực, bờ kè bằng rọ đá, bờ kè bằng thép hình … Tường cọc bản cũng là một phương án được chọn để bảo vệ bờ sông, các công trình ven bờ, hiện nay đang được ứng dụng tại một số công trình tương đối quan trọng. Nhu cầu về thiết kế công trình tường kè phù hợp với điều kiện địa chất khu vực là một nhu cầu có thực, việc tìm ra được giải pháp an toàn với chi phí hợp lý là mong muốn của rất nhiều kỹ sư xây dựng hiện nay. Tổng quan về đất yếu Đất yếu là loại đất không có khả năng tiếp nhận trực tiếp tải trọng từ công trình.
Hiện nay, không có định nghĩa rõ ràng về đất yếu và phần lớn các nước trên thế giới thống nhất định nghĩa về nền đất yếu theo sức kháng cắt không thoát nước Su và trị số xuyên tiêu chuẩn N như sau: - Đất rất yếu: Su ≤ 12.5 kPa hoặc N<2 - Đất yếu: Su ≤ 25 kPa hoặc N<4 Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCXD 245:2000, đất yếu được định nghĩa như sau: “là đất yếu nếu ở trạng thái tự nhiên độ ẩm của chúng gần bằng hoặc cao hơn giới hạn chảy hệ số rỗng lớn, lực dính C theo cắt nhanh không thoát nước 0.15daN/cm2 trở xuống, góc nội ma sát từ 0o đến 10o hoặc lực dính từ kết quả cắt cánh hiện trường Cu≤ 0.35daN/cm2” Địa chất ở Đồng bằng sông Cửu Long hầu hết là đất yếu, đặc biệt là khu vực sông Hậu, gồm đất bùn sét, á sét trạng thái chảy dễ bị xói lở khi có tác động bên ngòai. Các lớp cát xen kẹp trong lớp sét, bùn sét thường là cát mịn trạng thái chảy, khi có nước ngầm chúng dễ bị cuốn trôi gây nên hiện tượng xói ngầm làm sạt lở các khối đất bên trên. Các dạng tường kè 3.1 Các dạng tường cọc bản bảo vệ công trình ven sông Tường cọc bản là loại tường mềm được phân loại theo các cách sau: 3.1 Theo vật liệu có thể chia thành các dạng sau: + Tường cọc bản gỗ + Tường bằng cọc đất trộn xi măng + Tường cọc bản thép + Tường cọc bản bêtông cốt thép * Tường cọc bản gỗ 5 Hình 1.2 Bờ kè dạng tường cừ bằng gỗ Cấu tạo: Các cọc gỗ được xẻ nguyên cây có tiết diện vuông, tròn có mộng để nối lại với nhau. Tường chắn đất là các tấm gỗ dày 6 8cm xếp chồng lên nhau.
Có dầm ốp bằng gỗ trên đỉnh tường. Phần trên đỉnh tường là mái nghiêng bằng đá hộc có tầng lọc ngược, độ dốc m = 1:1,5. Để tránh va đập, người ta đóng gia cường thêm cọc gỗ phía ngoài để chịu va đập của thuyền bè. Phạm vi sử dụng: Thường được sử dụng ở vùng nông thôn, làm bến đò nhỏ, bến bốc dở hàng hóa nhẹ, các bến cảng có chiều sâu nhỏ.
Xây dựng ở những nhánh sông rạch có tốc độ dòng chảy nhỏ, không bị ảnh hưởng lớn của ngập lũ. Ưu điểm: Giá thành thấp do tận dụng cây gỗ có tại địa phương (như: tràm, đước, mắm, bạch đàn, dừa…), dễ thi công, dễ gia cố sửa chữa, thay thế. Nhược điểm: Tuổi thọ không cao, gỗ dễ bị mục khi do thủy triều lên xuống. Dễ bị hư hỏng hoàn toàn khi bị xói lở và ngập lũ.
* Tường cọc bản bằng đất trộn ximăng Cấu tạo: Các cọc đất trộn ximăng tiếp xúc khích nhau hoặc giao nhau để chống đỡ các vách hố đào hoặc chịu áp lực đất. Cừ vây bằng ximăng được thi công bằng thiết bị khoan có thể phun vữa gồm cát ximăng và nước ra xung quanh thân ống trộn với đất, cánh của lưỡi khoan có đường kính khỏang 0,3 đến 0,45m. Có thể cắm lồng thép hoặc thép hình vào khi vữa còn ướt. 6 Phạm vi sử dụng: Sử dụng trong việc chống vách hố đào cho tầng hầm các công trình Ưu điểm: Có thể thi công trong nhiều lọai đất khác nhau Nhược điểm: Khả năng kín nước kém vì có thể có những khỏang hở giữa hai cừ.
Khả năng chịu áp lực ngang không lớn như tường bằng bêtông cốt thép nên tùy chiều sâu và lọai đất mà phải thi công nhiều lớp cừ. * Tường cừ bản bằng thép Cấu tạo: Tường cừ chắn đất làm bằng thép định hình có tiết diện: hình chữ Z, chữ I, hình máng, cừ Larsen, thép ống… có chiều dài từ 5 22m. Dầm ốp có cấu tạo là 2 thanh thép chữ I đặt cao hơn mực nước thi công 0,5m. Dầm mũ bằng BTCT có tiết diện hình chữ nhật đổ tại chỗ.
Các thanh neo bằng thép tròn 75, 80. Mũ giữ thanh neo làm dầm BTCT. Phạm vi sử dụng: Làm bờ kè có qui mô lớn, làm bến cảng nước sâu cho tàu có trọng tải lớn, bốc dở hàng hóa nặng. Xây dựng bảo vệ xói lở khu trung tâm dân cư, bảo vệ các công trình quan trọng ven sông.
Ưu điểm: Tuổi thọ cao, tính công nghiệp lắp ghép cao, thi công nhanh. Chịu được những nơi có tốc độ dòng chảy lớn, bị ngập lũ sâu. Nhược điểm: Giá thành cao do phải nhập cừ thép định hình từ nước ngoài. Thép bị ăn mòn ở những vùng có nước nhiễm phèn, nhiễm mặn.
Loại này ít dùng ở đồng bằng Sông Cửu Long.3 Một số hình dạng và liên kết của tường cọc bản bằng thép Hình 1.4 Cừ thép dùng làm tường cọc bản 8 Hình 1.5 Tường cọc bản bằng thép bảo vệ công trình * Tường cừ bản bêtông cốt thép Cấu tạo: Cọc bản bằng BTCT, có nhiều dạng tiết diện, cọc bản tiếp nhận trực tiếp áp lực của lớp đất đắp đất. Dầm mũ bằng BTCT đổ tại chỗ, liên kết các đầu cọc bản, tiếp nhận lực của cọc bản truyền vào, sau đó dầm mũ truyền lực qua cọc vây và dầm neo. Dầm neo bằng BTCT đúc sẵn, hoặc thép hình có tăng đơ Phạm vi sử dụng: Làm bờ kè có qui mô lớn, làm bến cảng nước sâu cho tàu có trọng tải lớn, bốc dở hàng hóa nặng. Xây dựng bảo vệ xói lở khu trung tâm dân cư, bảo vệ các công trình quan trọng ven sông.
Ưu điểm: Bờ kè bằng BTCT kết cấu bền vững, tuổi thọ cao, dễ thi công. Tận dụng được vật liệu có sẵn, giá thành thấp hơn so với thép định hình. Được dùng rộng rãi ở ĐBSCL, ở những nơi ngập lũ sâu, tốc độ dòng chảy lớn, xói lở bờ mạnh. - Nhược điểm: Khi thi công các cọc bản ghép lại với nhau, các mối nối khó khít nhau khi đóng cọc bản vào đất.6 Các dạng mặt cắt tường cọc bản bêtông cốt thép Hình 1.7 Tường cọc bản bêtông cốt thép bảo vệ bờ sông 10 3.2 Theo cách giữ tường ổn định: có thể chia thành 2 loại là tường có neo và tường không neo CAÙP NEO TÖÔØNG COÏC BAÛN TÖÔØNG COÏC BAÛN GIAÈNG COÏC NEO a.
Töôøng khoâng neo b. Töôøng coù neo Hình 1. Tường cọc bản không neo và b. Tường cọc bản có neo 3.2 Các dạng neo trong tường kè - Các dạng neo sau được sử dụng phổ biến trong tường cọc bản: - Bản neo và dầm neo: Bản neo thường là các tấm bêtông nối với tường bằng các thanh neo.
Các thanh neo được chống ăn mòn bằng các lớp sơn hoặc asphalt bảo vệ. - Thanh neo: Có cấu tạo gồm một khối bêtông đúc tại chỗ trong lòng đất và nối với tường bằng các thanh neo hoặc dây cáp chịu kéo. - Cọc neo thẳng đứng: sử dụng các thanh neo để neo tường vào các cọc đóng thẳng đứng. Dùng cho các trường hợp có lực ngang nhỏ - Các dầm neo trên các cọc xiên: Sử dụng thanh neo hoặc cáp neo để neo tường vào các cọc xiên chịu nhổ.
Sử dụng trong các trường hợp có lực ngang lớn. - Các dạng neo trong tường kè (hình 1.9) 11 CAÙP NEO CAÙP NEO TÖÔØNG COÏC BAÛN TÖÔØNG COÏC BAÛN KHOÁI BEÂTOÂNG NEO GIAÈNG GIAÈNG COÏC NEO a. Neo baèng khoái beâtoâng coá ñònh b. Neo baèng coïc neo hay töôøng neo DAÀM NEO CAÙP NEO CAÙP NEO TÖÔØNG COÏC BAÛN TÖÔØNG COÏC BAÛN GIAÈNG NHOÙM COÏC NEO BAÀU NEO c.
Neo baèng daàm coù coïc xieân choáng ñôû Hình 1.9 Các dạng neo trong tường kè 4. Ổn định của tường kè ven sông Các dạng mất ổn định của tường kè được chia thành 3 loại chính sau: - Mất ổn định do trượt tổng thể :trượt sâu, mặt trượt đi qua chân cọc (hình 1.11) - Mất ổn định do phá hoại về kết cấu : tường không đủ chịu tải trọng ngang, hệ thống neo không đảm bảo, ăn mòn vật liệu, xói lở …. Mặt trượt khi đó sẽ đi qua thân cọc (hình 1.13) - Mất ổn định do thiên tai.10 Tường cọc bản bị mất ổn định do bị trượt sâu Hình 1.11 Tường cọc bản mất ổn định do chiều sâu ngàm không đủ (phá hoại xoay) 13 Hình 1.12 Tường cọc bản bị phá hoại do bị gãy Hình 1.13 Tường cọc bản bị phá hoại do neo 14 5. Một số sự cố tường kè Hình 1.14 Bờ kè cầu Trà Niền Phong Điền (Cần Thơ) bị sạt lở 6.
Nhận xét Đất yếu là một trong những đối tượng nghiên cứu và xử lý phức tạp, đòi hỏi phải khảo sát, phân tích và tính toán một cách kỹ lưỡng. Trong điều kiện phát triển các khu dân cư ven sông, bờ kè bảo vệ công trình phải được xét đến để có thể khai thác hiệu quả công trình. Tuy nhiên, khi lựa chọn phương án xây dựng tường cọc bản vẫn chưa có sự nghiên cứu, so sánh để tìm giải pháp tối ưu mà thường dựa trên cảm tính của người thiết kế, trong khi điều này đòi hỏi phải đánh giá về chiều sâu lớp đất yếu, tải trọng công trình bên trên, chênh lệch chiều sâu giữa đất trước và sau lưng tường ….Việc nghiên cứu giải pháp tường cọc bản để đảm bảo ổn định cho các công trình ven bờ tại Đồng bằng sông Cửu Long là hết sức cần thiết trong điều kiện đất yếu tại khu vực này. 15 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT TÍNH TOÁN ỔN ĐỊNH VÀ BIẾN DẠNG TƯỜNG KÈ 1.
Sự làm việc của tường Tường cọc bản làm việc thông qua sự cân bằng giữa áp lực đất chủ động và áp lực đất bị động của khối đất trước và sau tường.