mở đầu diễn biến và kết thúc. Tƣ duy có khả năng phản ánh đƣợc những thuộc tính bản chất của sự việc hiện tƣợng, đó là những đặc tính cố hữu gắn chặt với sự vật hiện tƣợng mà nếu mất đi sẽ không còn là sự vật hiện tƣợng đó nữa. Theo sách tâm lý học đại cƣơng – Huỳnh Văn Sơn: “Tƣ duy là một quá trình nhận thức phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tƣợng khách quan mà trƣớc đó ta chƣa biết.” [19] Theo Tâm lý học đại cƣơng – Nguyễn Quang Uẩn: “Tƣ duy là một quá trình tâm lý phản ánh nhứng thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tƣợng trong hiện thực khách quan mà trƣớc đó ta chƣa biết.”[24] Theo tác giác Phạm Minh Hạc (1992): Đứng trƣớc những thách thức của cuộc sống, con ngƣời không thể giải quyết đƣợc nhiệm vụ phức tạp nếu chỉ nhận ra những đặc điểm bên ngoài hay phản ánh ở thực tại. Trong những trƣờng hợp đó vấn đề chỉ đƣợc giải quyết khi chủ thể nỗ lực nhận thức một cách cao độ.
Phản ánh sự vật hiện tƣợng hay nhìn nhận và giải quyết bài toán một cách gián tiếp với những dự báo, dự đoán có cơ sơ khoa học dựa trên những nguyên lý và quy luật, đó chính là tƣ duy [9]. 9 c Nói tóm lại, tƣ duy là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, là sự phản ánh những thuộc tính chung và bản chất, tìm ra mối liên hệ, mối quan hệ có tính quy luật của sự vật hiện tƣợng mà ta chƣa từng biết [8]. Đặc điểm của tư duy Dựa trên các nghiên cứu từ tài liệu [8], [12] tƣ duy có một số đặc điểm nhƣ sau: 1. Tính có vấn đề của tư duy Tƣ duy là sự tác động trực tiếp từ hiện thực khách quan vào não bộ, tuy nhiên không phải mọi tình huống mọi hoàn cảnh đều xuất hiện quá trình tƣ duy.
Quá trình tƣ duy xảy ra khi có hai điều sau xảy ra: - Trƣớc hết là phải gặp đƣợc tình huống có vấn đề. Tình huống có vấn đề là tình huống chứa đựng những mục đích mới, tìm ra cái mới đòi hỏi nhu cầu giải quyết mới mà với cách thức giải quyết cũ đã không còn phù hợp. Nhƣ vậy trong trƣờng hợp này cần phải có tƣ duy. - Thứ hai đó là chủ thể cần nhận thức ra đƣợc tình huống có vấn đề, từ đó chuyển thành nhiệm vụ của cá nhân.
Tính khái quát của tư duy Để phân biệt sự vật hiện tƣợng này với sự vật hiện tƣợng khác, tƣ duy hƣớng tới cái chung và bản chất nhất của sự vật hiện tƣợng. Đối tƣợng của tƣ duy là cái chung nhƣng bao giờ tƣ duy cũng hƣớng tới cái riêng, bởi cái riêng bao giờ cũng đƣợc khái quát từ cái riêng còn cái riêng thì nằm trong mối liên hệ giữa cái chung.3 Tính gián tiếp của tư duy Tƣ duy phát hiện ra bản chất của sự vật hiện tƣợng thông qua máy móc công cụ hoặc thông qua tƣ duy của ngƣời khác (kiến thức kinh nghiệm). Vì tƣ duy là quá trình tìm hiểu thuộc tính bên trong của sự vật hiện tƣợng nên không thể dung nhận thức cảm tính để phát hiện trực tiếp.4 Tư duy có liên hệ chặt chẽ với ngôn ngữ Tƣ duy vận hành trên nền tảng ngôn ngữ. Hay nói cụ thể hơn là tƣ duy có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ.
Descartes nói rằng không có ngôn ngữ thì chẳng có tƣ duy. Tƣ duy trừu tƣợng, gián tiếp, khái quát không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ, nó phải dùng ngôn ngữ làm phƣơng tiện cho mình, nếu không có ngôn ngữ thì bản thân quá trình tƣ duy không diễn ra đƣợc, đồng thời các sản phẩm của tƣ duy cũng không đƣợc chủ thể và ngƣới khác tiếp nhận. Ngôn ngữ cố định lại các kết quả của tƣ duy và nhờ đó làm khách quan hóa chúng cho ngƣời khác và cho cả bản thân chủ thể tƣ duy. Tuy vậy ngôn ngữ không phải là tƣ duy, ngôn ngữ chỉ là phƣơng tiện của tƣ duy [23].
Tư duy có liên hệ chặt chẽ với nhận thức cảm tính Trƣớc hết con ngƣời nhận thức các sự vật hiện tƣợng khách quan thông qua nhận thức cảm tính. Thông qua đó có thể nhận biết đƣợc các dặc tính bên ngoài của sự vật hiện tƣợng. Những nhận thức đó thƣờng là hời hợt và có thể không chính xác, đôi lúc còn mâu thuẫn nhau. Thực tế thì không phải lúc nào cũng có thể giải thích đƣợc, và tƣ duy xuất hiện nhƣ một quá trình để giải quyết khâu tiếp theo của thực tiến.
Các giai đoạn cơ bản của quá trình tư duy K.Platonop đã tóm tắt giai đoạn cơ bản của quá trình tƣ duy theo sơ đồ sau 11 c Sơ đồ 1. Các giai đoạn cơ bản của quá trình phát triển tư duy Tƣ duy là hành động bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau. Mỗi một hành động của tƣ duy có mục đích để giải quyết một nhiệm vụ nào đó. Cụ thể các giai đoạn của một quá trình tƣ duy diễn ra nhƣ sau: 1.
Xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề thành nhiệm vụ tư duy Tƣ duy nảy sinh khi con ngƣời bắt gặp tình huống có vấn đề và nhận thức đƣợc vấn đề cần giải quyết. Chủ thể cần nhận ra đƣợc mâu thuẫn giữa cái đã biết, cái phải tìm và cái muốn có. Từ đó nảy sinh ra nhu cầu giải quyết, tìm ra những tri thức liên quan đến vấn đề cần gải quyết, trên cơ sơ đó đề ra nhiệm vụ tƣ duy. Huy động cá tri thức và vốn kinh nghiệm liên quan đến vấn đề đã được xác định Bƣớc này làm xuất hiện trong đầu những tri thức, kinh nghiệm, những mối liên tƣởng xoay quanh vấn đề đã đƣợc xác định.
Việc huy động các tri thức liên quan này phụ thuộc vào nhiệm vụ tƣ duy đã đƣợc xác định. Việc tƣ duy đúng hƣớng hay không phụ thuộc rất nhiều vào bƣớc này. Sàng lọc các liên tưởng và hình thành giả thuyết Những tri thức và kinh nghiệm, những liên tƣởng đã đƣợc hình thành ở phần trên còn mang tính rộng rãi, chƣa đƣợc phân hóa, lựa chọn kĩ càng để phù hợp nhất với nhiệm vụ đƣợc đề ra. Sàng lọc liên tƣởng chính là lựa chọn các tri thức cần thiết và gạt bỏ các tri thức không cần thiết cho nhiệm vụ tƣ duy.
Hình thành giả thuyết là nhu cầu tối cao cho nhiệm vụ này. Sự thành công trong giải quyết nhiệm vụ tƣ duy cũng nhƣ trong việc tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tƣ duy đều tùy thuộc vào sự đa dạng của giả thuyết. Chính sự đa dạng này đã cho phép ta xem xét một sự vật hiện tƣợng từ nhiều hƣớng khác nhau, từ đó tìm ra con đƣờng giải quyết đúng đắn và nhanh gọn nhất [23]. Kiểm tra giả thuyết Do sự đa dạng của giả thuyết đòi hỏi ta phải kiểm chứng xem giả thuyết nào là phù hợp nhất với vấn đề mà ta cần giải quyết.
Kết quả kiểm tra giả thuyết có thể dẫn đến sự khẳng định, phủ định hay chính xác hóa giả thuyết mà mình đƣa ra. Giải quyết vấn đề Khi mà giả thuyết đã đƣợc kiểm chúng và khẳng định thì nó sẽ đƣợc thực hiện. Quá trình tƣ duy giải quyết nhiệm vụ thƣờng có nhiều khó khăn, do một số nguyên nhân thƣờng gặp nhƣ sau: chủ thể chƣa nhận đƣợc nhiệm vụ 13 c để giải quyết, chủ thể đƣa vào bài toán một dữ kiện thừa, hoặc có thể do tính chất khuôn sáo cứng nhắc khi tƣ duy làm cho chủ thể không giải quyết đƣợc nhiệm vụ. Phân tích và tổng hợp Phân tích là quá trình dung trí óc để phân chia, bóc tách đối tƣợng thành nhiều phần để chủ thể nhận thức đƣợc đối tƣợng sâu sắc hơn.
Tổng hợp là quá trình dùng trí óc để hợp nhất các thành phần đã đƣợc tách rời trong quá trình phân tích thành một thể thống nhất hoàn chỉnh. Phân tích và tổng hợp là hai quá trình có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung nhau trong một quá trình tƣ duy thống nhất. Phân tích là cơ sở để tổng hợp, đƣợc tiến hành theo phƣơng hƣớng của sự tổng hợp. Tổng hợp diễn ra trên cơ sở phân tích đƣợc thực hiện trên kết quả của sự phân tích.
Không có quá trình phân tích thì không thể tiến hành tổng hợp đƣợc [24]. So sánh So sánh là thao tác trí tuệ dùng trí óc để xác định sự giống nhau khác nhau giữa các sự vật, hiện tƣợng, để tìm mối liên hệ giữa các sự vật đó. Không chỉ cậy, so sánh còn chỉ ra sự tƣơng tác hay mối quan hệ giữa chúng ở một chừng mực. Thao tác này liên hệ chặt chẽ với thao tác phân tích – tổng hợp và rất quan trọng ở giai đoạn đầu của đứa trẻ nhận thức thế giới xung quanh.
Trừu tượng hóa và khái quát hóa Trừu tƣợng hóa là quá trình gạt bỏ những mặt, những thuộc tính, những quan hệ thứ yếu không cần thiết và chỉ giữ lại những thuộc tính, những liên hệ, yếu tố cần thiết cho tƣ duy. Khát quát hóa là quá trình dùng trí óc để hợp nhất nhiều đối tƣợng khác nhau thành một nhóm, mọt loại theo những thuộc tính, những liên hệ, quan hệ chung nhất. 14 c Trừu tƣợng hóa và khái quát hóa có mối liên hệ mật thiết. con ngƣời thƣờng khái quát hóa dựa trên trừu tƣợng hóa và đƣơng nhiên trừu tƣợng hóa để hƣớng đến khái quát hóa.
Xem xét trên bình diện tâm lý, con ngƣời vừa là một khái niệm có tính khái quát cao khi chúng ta tri giác, suy nghĩ về con ngƣời không phải chỉ lƣu ý đến trang phục, hình thể hoặc chỉ vì một ai đó với những đặc thù của chính họ. Tóm lại giữa các thao tác tƣ duy đều có quan hệ mật thiết với nhau, thống nhất theo một hƣớng nhất định do nhiệm vụ tƣ duy quy định 1. Tƣ duy phản biện 1. Khái niệm Khái niệm TDPB (critical thinking) có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ đại.
Từ “critical” có nguồn gốc từ hai từ gốc Hi Lạp là “kriticos” (sự sáng suốt) và “criterion” (nghĩa là tiêu chuẩn). Nhƣ vậy “critical” có nghĩa là đánh giá sang suốt dựa trên một cơ sở tiêu chuẩn. Trong quá trình tìm hiểu về “critical thinking” chúng tôi có nhận thấy rằng trƣớc kia có một số tác giả sử dụng cụm từ “tƣ duy phê phán” để thay cho cụm từ “ tƣ duy phản biện”.